Chương 1: đặt vấn để Chương 2: cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: tổng quan Chương 4: kết quả nghiên cứu và tháo luận Chương 5: kết luận và kiến nghị - -—= -'m— ae ELLE = 3° Se Chuong 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Một số quan điểm về nghèo đói: Nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể về quan niệm nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng vùng, từng quốc gia hay từng nhóm dân cư với nhau. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chỉ tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn ở, mặc, Y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Dựa vào trình độ phát triển kinh tế — xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia, mà sự thoả mãn ở mức cao hay thấp tuỳ theo.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau khi nhìn nhận về vấn để nghèo đói như sau: Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển kinh tế xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch (1995) định nghĩa về nghèo đói là: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla mỗi ngày cho mỗi người, số tiền đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại. Tuy nhiên cũng có những quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (LO) ông Abapia- Sen, người được giải thưởng Noben về kinh tế năm 1998. Ông cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Xét cho cùng sự tổn tại của con người nói chung là người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giau cd cd hội lựa chọn nhiều hơn so với người nghèo.
Ngoài ra quan niệm về nghèo đói còn thể hiện qua 3 phương điện : Về phương diện thu nhập thì thu nhập thấp hơn giới hạn thu nhập được xác định, về phương diện nhu cầu cơ bản: là thiếu thốn vật chất để đáp ứng các nhu câu cơ bản như: ăn, mặc, Ở. và về phương diện điều kiện: thiếu điều kiện cơ bản, thiếu cơ hội đạt được mức tối thiểu các nhu cầu dinh dưỡng, quần áo, chỗ ở, chăm sóc y tế.( Nguyễn Văn Năm, môn PTKTNT, 2000) Mặt khác quan niệm của chính người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản hơn thực tế hơn, một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân miễn núi, họ nói rằng:” Nghèo đói thể hiện khi không biết chắc bữa ăn ngầy mai của mình là gì, nhà ở thiếu thốn, nợ không có khả năng hoàn trả, ốrn đau không có tiên chạy chữa, phải đi làm thuê để lấy miếng ăn hàng ngày, con em không có điểu kiện đến trường. (Sở LĐTBXH,2001) Tuy nhiên tất cả quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phan ánh 2 đặc điểm chung: + Có mức sống thấp hơn mức sống nhu cầu của cộng đồng dân cư và thiếu nhu cầu cơ bản dành cho con người.2 Định nghĩa nghèo Tại hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á thái bình dương ESCAP tổ chức ở bangkok (Thái Lan) vào tháng 9/1993 nhận định: “ Nghèo đói là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Nghèo là tình trạng thu nhập thực tế của người dân hầu hết chỉ dành cho ăn, thậm chí không đủ ăn và gần như họ không có tích luỹ, không có các nhu cầu tối thiểu, ngoài ra còn có các mặt 4, + | -———— ee ee khác như: nhà ở, văn hoá, giáo dục, y tế, đi lai.giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kể, có 2 dạng nghèo: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống, nghèo đói về thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác như nhà Ở, y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình trạng dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, tình trạng này thể hiện ở những nước đang phát triển mức sống của họ khá cao, họ quan tâm nhiều hơn đến quyền lựa chọn, sự bình đẳng vì thế trong xã hội (bình đẳng trong học tập, trong lao động, phân phối thu nhập, bình đẳng về chính trị.) nhằm nâng cao chất lượng trong cuộc sống.3 Thước đo nghèo đói 2.1 Chuẩn nghèo đói Mức chỉ tiêu là đại lượng được tất cả các quốc gia cũng như tổ chức quốc tế đùng làm phương pháp chung để đánh giá nghèo đói, lấy đó định chuẩn cho mức độ nghèo đói bằng việc xem xét những chỉ tiêu đảm bảo nhủ cầu tối thiểu cho cuộc sống. Trước hết mức chỉ tiêu cho nhủ câu lương thực, thực phẩm- hay gọi là “ đường nghèo lương thực, thực phẩm” được đánh giá cao hay thấp là tuỳ thuộc vào từng tổ chức, từng quốc gia khác nhau, để bảo đảm lượng thức ăn tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người phẩi có 2100kcal/người/ngày chiếm 60- 65% tổng chỉ tiêu hàng ngày, những người có mức chỉ tiêu chưa đạt mức chỉ tiêu cần thiết để có được lượng kcal nay gọi là nghèo về lương thực thực phẩm. Mặt khác tổng chỉ tiêu cho lương thực, thực phẩm và các mặt hàng phi lương thực thực phẩm (chiếm khoảng 35-40% tổng chi tiêu) gọi là đường nghèo chung hay chuẩn nghèo.
: a _— -— Để nghiên cứu thuận tiện hơn việc ánh hưởng từ nhu cầu chỉ tiêu sang thu nhập là cần thiết. Chuẩn nghèo là một khái niệm động theo không gian và thời gian thường được thể hiện rõ trong qui định nghèo đói của bộ lao động thương binh xã hội (LĐTBXH) qua từng giai đoạn lịch sử và theo tiến trình phát triển kinh tế — xã hội của từng vùng hay từng quốc gia sao cho phù hợp với thực tiến cuộc sống. Theo qui định của bộ LĐTBXH trong giai đoạn 2001- 2005 cho 3 vùng sinh thái về chuẩn nghèo của những hộ gia đình có thu nhập hàng tháng phân theo hộ nghèo như sau: + Vùng đô thị là 150 ngần đồng /người. + Vùng nông thôn đồng bằng là 100 ngần đồng/người.
+ Vùng nông thôn miễn núi là 80 ngần/người. Theo tiêu chí phân loại trên và theo qui định của ủy ban dân tộc, hộ dân tộc thiểu số miễn núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống.2 Thước đo nghèo đói chuẩn nghèo đã được xác định, dùng thống kê để mô tả qui mô này dựa trên cơ sở của Foster, Green và Thorbecke (năm 1984) đưa ra công thức xác định như sau: Ka 1({z—Xxi p„=UUn d\A Z Trong đó: p: Chỉ số nghèo đói. x Đai lương xác định phúc lợi (thu nhập bình quân thực tế) cho người thứ ¡ z: Ngưỡng nghèo theo thu nhập n: Số người trong mẫu điều tra (tổng số người quan sát) q: Những người có thu nhập dưới ngưỡng nghèo ơ: Đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bình đẳng giữa những người nghèo. + œ=0, công thức trên trở thành :Pọ= q/n, tức bằng số người nghèo chia cho tổng số người trong mẫu.
Đây được gọi là tỷ số đếm đầu hay chỉ số đếm đầu. , Te lui 2-2 + œ=1, công thức trên trổ thành: Py SG - = - i=l Công thức này gọi là chỉ số khoảng cách nghèo đói. Chỉ số nầy cho biết sự thiếu hụt trong chỉ tiêu (thu nhập) của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo, và nó được thể hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong quân thể. ZL xi a=2, cong thifc trén trd thanh: ail -->, Công thức này gọi là khoảng nghèo đói bình phương, chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ của nghèo đói) và làm tăng thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo.
Trong 3 thước đo trên, chỉ số đếm đầu (Po) là được sử dụng phổ biến nhất, nó được sử dụng hầu hết trong các báo cáo về nghèo đói của Việt Nam khi chuyển sang tính dưới dạng 5.4 Thước đo về sự bất bình đẳng 2.1 Đường cong Lorenz Để đánh giá phân phối thu nhập trong một nền kinh tế được thể hiện qua công cụ là đường cong Lorenz, trong đó : oe ”—== se ls DOES ——" + Trục tung là phần trăm cộng dồn thu nhập (không thể hiện bằng số tuyệt đối) + Trục hoành biểu thị số nông hộ theo từng mức phần trăm số hộ cộng dồn ( không thể hiện bằng số tuyện đối). Trong nghiên cứu này đường cong Lorenz được vận dụng để tìm hiểu một khía cạnh nhỏ là biết xem ai nhận được bao nhiêu thu nhập chiếm tỷ trọng trong tổng thể nói - chung như thế nào, tương tự cũng như với vấn để sở hữu ‹ đất đai của _ người dân ở đây. Hình 1: Đường Cong Lorenz về Thu Nhập wr 5 3 —s=— Đường đồng, & cs 1 đẳng | E40 ; 2 ¡=> Đường cong | z 3 lorenz | 2 20 : a 0 Be T T T TÔ 1 0 20 40 60 80 400 % Người nhận thu nhập 2.2 Hệ số Gini Để xác định tính bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ngoài đường cong Lorenz thì hệ số Gini nhằm xác định tỷ lệ phần diện tích giữa đường chéo (đường bình đẳng) và khúc tuyến Lorenz so Với phần tổng diện tích. Hệ số Gini được thể hiện qua công thức: ` (n+1-r,)y, 1 G=1+—- © n M i=1 Trong đó : G: Hệ số Gini n: Tổng số người nhận thu nhập (tổng số mẫu điều tra) M: Thu nhập bình quân (tổng thu nhập /số người) r¡: Thứ tự xếp hạng thu nhập từ cao đến thấp y¡: Thu nhập bình quân thực tế của người thứ i Nếu hệ số Gini càng cao có nghĩa là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, ngược lại hệ số này càng nhỏ thì Đình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng giảm khi: Hệ số Gini =1: hoàn toàn bất bình đẳng Hệ số Gini =0: bình đẳng hoàn toàn Theo ngân hàng thế giới (WB) nhận xét rằng: hệ số Gini tốt nhất khoảng trên dưới 0,3 (Nguyễn Thị Cành, 2001).5 Đánh giá kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu.
PRA (Participatory Rural Apprasal) là hoạt động nghiên cứu theo một hệ thống nhưng mềm dẻo, thực hiện dựa trên thực địa.