Đặt vấn đề Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hƣớng rất đáng báo động. Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với ngƣời nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trƣởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu ngƣời nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu ngƣời của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao. Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dƣới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáo của Manos Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha, Manos Unidas (United Hands) cho biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7 triệu trẻ dƣới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không đƣợc đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết hôn quá sớm. Nghèo đói diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau.
Đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển, sự đói nghèo của dân cƣ đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhƣng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trƣờng trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nƣớc đang thiếu lƣơng thực vƣơn lên thành nƣớc xuất khẩu gạo, và giữ vị trí trong ba nƣớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, an ninh lƣơng thực đã vững vàng. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tỷ lệ nghèo đói (bao gồm cả thiếu lƣơng thực) mà đa số phân bố ở các xã thuộc chƣơng trình 135 (xã nghèo). Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã đƣợc nhận rõ, mà trƣớc hết là số liệu trẻ em suy 1 dinh dƣỡng đã ở mức báo động (gần 50%).
Ngay đầu năm 1991, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu, và triển khai thành phong trào xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, theo chuẩn nghèo quốc gia thì tỷ lệ số hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; năm 2008 13,4% và còn 12,3% vào năm 2009, năm 2010 là 10,7 %. Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt đƣợc nƣớc ta cũng còn rất nhiều huyện, xã chƣa giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói.
Những kết quả đạt đƣợc chƣa mang tính bền vững bởi vì thu nhập của ngƣời dân hầu hết đều xoay quanh ở mức cận nghèo. Do vậy rất dễ rơi vào tình trạng tái nghèo khi gặp những tác động không thuận lợi tới đời sống và sản xuất của họ. Đặc biệt đối với hộ nông dân miền núi, nơi có những khó khăn về mặt địa hình, kinh tế xã hội, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trƣờng còn hạn chế. Bù Gia Mập là huyện vùng sâu của tỉnh Bình Phƣớc, đƣợc thành lập đƣợc thành lập theo nghị quyết số 35 của chính phủ và đi vào hoạt động từ ngày 1/11/2009 trên cơ sở phần còn lại của huyện Phƣớc Long cũ sau khi thành lập thị xã Phƣớc Long.
Là huyện mới thành lập, đồng thời đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện chiếm khá cao (có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn 22% dân số toàn huyện) nên nhìn chung đời sống còn nhiều khó khăn. Đời sống một bộ phận nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém. Trong năm 2011, tình hình kinh tế trong nƣớc nói chung, tỉnh Bình Phƣớc và huyện Bù Gia Mập nói riêng vẫn gặp nhiều khó khăn do lạm phát tăng cao, giá nguyên liệu đầu vào và lãi xuất tín dụng tăng cao, giá các loại nông sản diễn biến thất thƣờng đã ảnh hƣởng đến sản xuất nông nghiệp, chỉ số tiêu dùng những tháng đầu năm tăng cao làm ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân. Với những lý do nêu trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố tác động đến nghèo đói của hộ gia đình tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc” nhằm phân tích các yếu tố gây ra tình trạng nghèo đói của huyện, đồng thời mong muốn góp phần vào công cuộc xây dựng huyện mới, phát triển vững mạnh.
Mặc dù đã cố 2 gắng nhiều khi nghiên cứu đề tài để hoàn thiện, tuy nhiên do nhiều yếu tố ràng buộc nhƣ thời gian, năng lực, cũng nhƣ khó khăn trong việc lấy thông tin nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót về nội dung cũng nhƣ hình thức, kính mong sự chỉ bảo và góp ý của quý thầy cô, các cô chú, anh chị công tác tại chính quyền địa phƣơng để khóa luận của em đƣợc hoàn chỉnh và có giá trị thực tiễn hơn. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Phân tích các yếu tố tác động tới nghèo đói của hộ gia đình tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc. Mục tiêu cụ thể Để đạt đƣợc mục tiêu chung đã nêu trên, cần giải quyết các mục tiêu cụ thể sau: - Thực trạng nghèo đói tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc.
- Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến thu nhập và nghèo đói của hộ gia đình tại huyện Bù Gia Mập. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo tại địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 1. Đối tƣợng nghiên cứu Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến các vấn đề về thu nhập, do đó đối tƣợng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ gia đình.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài a) Phạm vi không gian Đề tài đƣợc nghiên cứu trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc. b) Phạm vi thời gian Nghiên cứu, thu thập số liệu thứ cấp trong khoảng thời gian năm 2006-2011 Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ ngày 30/08/2012 – 20/9/2012. c) Phạm vi nội dung nghiên cứu 3 Một số thông tin thu đƣợc từ ngƣời dân có lẽ không chính xác đặc biệt tại các nhóm hộ ngƣời dân tộc thiểu số, ngƣời dân gặp khó khăn trong việc nhớ lại những sự kiện xảy ra trong quá khứ, hay thu nhập của mình từ nông nghiệp. Khó khăn trong việc tiếp xúc với hộ dân tộc thiểu số vì một số hộ kém hiểu biết, thu thập số liệu khó.Việc đánh giá và phân tích dựa chủ yếu vào kết quả của cuộc điều tra tại huyện.
Do đó, một số vấn đề nêu ra cần phải có thời gian kiểm chứng. Cấu trúc của đề tài Đề tài đƣợc viết theo 5 chƣơng Chƣơng 1: Giới thiệu Chƣơng này giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: Tổng quan Chƣơng này giới thiệu tổng quan tài liệu nghiên cứu, tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phƣớc. Chƣơng 3: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Trình bày chi tiết những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghèo đói và giới thiệu một cách có hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu mà khóa luận sử dụng để đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu, chủ yếu tập trung vào giới thiệu các nhân tố ảnh hƣởng nghèo đói của hộ gia đình.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày tình hình thực hiện và kết quả nghiên cứu đề tài, phân tích các đặc điểm của hộ gia đình ảnh hƣởng đến nghèo đói tại huyện Bù Gia Mập, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng cuộc sống của hộ gia đình ở huyện Bù Gia Mập. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả thu đƣợc ở chƣơng 4, trình bày tổng quát kết quả nghiên cứu đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế của luận văn. Đƣa ra đề xuất kiến nghị với chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng nhằm nâng cao chất lƣợng công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Bù Gia Mập. 4 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN 2.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, nhiều tài liệu có liên quan đƣợc tham khảo bao gồm những đề tài tốt nghiệp của các khóa trƣớc, các bài giảng của thầy cô có liên quan đều là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để hoàn thành đề tài. Nghiên cứu của Trần Hoài Nam (2006) về nghèo đói tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, tác giả đã xây dựng mô hình lôgistic về các yếu tố tác động đến nghèo đói nhƣ biến số tuổi chủ hộ, số năm đi học của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, tỷ lệ ngƣời phụ thuộc, nghề nghiệp chủ hộ, dân tộc. Bằng cách sử dụng mô hình hồi qui, tác giả đã xây dựng mô hình thu nhập của hộ gia đình, và mô hình xác suất nghèo đói đồng thời đƣa ra các giải pháp thoát nghèo của huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu của Võ Hữu Phƣớc (2010) về những nhân tố tác động đến nghèo của ngƣời dân tộc Khmer ở huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Bằng cách lập mô hình kinh tế lƣợng kết hợp với các phƣơng pháp phân tích, mô tả, thống kê tác giả đã đánh giá thực trạng nghèo và định lƣợng các nhân tố tác động tới nghèo của ngƣời dân tộc Khmer ở huyện Cầu Ngang thông qua việc điều tra khảo sát 301 hộ ngƣời dân tộc Khmer tại địa bàn huyện. Kết quả nghiên cứu đã xác định đƣợc các nhân tố tác động tới sự tăng tỷ lệ nghèo của ngƣời dân tộc Khmer gồm: quy mô hộ, làm nông. Các nhân tố làm giảm tỷ lệ nghèo gồm: trình độ văn hóa, vốn vay, giới tính, tuổi chủ. Tóm lại tổng quan về tài liệu không chỉ là một số bài nghiên cứu mà nó còn đƣợc tổng hợp từ nhiều nguồn, từ thực tế cuộc sống, các bài giảng của thầy cô trong quá trình thực tập, từ hệ thống internet, từ việc thăm dò ý kiến của nông hộ điều tra và đóng góp ý kiến từ các cô,chú, bác,… phòng thống kê, phòng lao động thƣơng binh xã hội địa phƣơng nghiên cứu.
Tổng quan địa bàn nghiên cứu 2. Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Huyện Bù Gia Mập là huyện miền núi biên giới của tỉnh Bình Phƣớc, đƣợc thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/11/2009 trên cơ sở phần còn lại của huyện Phƣớc Long (cũ), sau khi thành lập thị xã Phƣớc Long.