CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận phát triển cộng đồng 1. Khái niệm - Khái niệm phát triển cộng đồng được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940. Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng[1].
Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng, biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng[1]. - Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956 Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia Định nghĩa này nhấn mạnh hai yêu tố: Sự tham gia của người dân với sự tự lực tối đa và Sự hỗ trợ về kỹ thuật và dịch vụ của nhà nước để khuyến khích sáng kiến, sự tự giúp, những cố gắng của người dân[1].s Nguyễn Thị Oanh, 1995 Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức, và tiến tới sự tự lực, phát triển[1]. Các giá trị của PTCĐ - An sinh của người dân: các thành viên trong cộng đồng được phát triển, có công ăn việc làm, được đảm bảo một cuộc sống đầy đủ về mặt vật chất, tinh thần, có giá trị, được tôn trọng và bảo vệ. - Công bằng xã hội: các thành viên trong cộng đồng được có quyền có cơ hội như nhau để thoả mãn những nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị nhân phẩm của mình, có quyền được tham gia vào việc ra quyết định trong cuộc sống.
- Tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội : chúng ta tin rằng con người với tư cách là một thành tố của cộng đồng và xã hội không chỉ quan tâm đến cá nhân mình mà còn có trách nhiệm với đồng loại, và cùng nhau giải quyết những nhu cầu và vấn đề chung. Mục đích của PTCĐ - Tạo ra được những chuyển biến xã hội để đạt được sự cải thiện về điều kiện sống, về vật chất và tinh thần. - Xây dựng và củng cố các nhóm, các tổ chức trong cộng đồng. - Phát huy tối đa sự tham gia của người dân, tiềm năng của cộng đồng trong tiến trình phát triển.
- Thực hiện công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi trong cộng đồng được nói lên nguyện vọng và được tham gia vào các hoạt động phát triển. Lý luận về nghèo 1. Định nghĩa Nghèo: Quan niệm trước đây: Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp. Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người.
Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo. Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống. Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo. Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế[14].
Quan điểm hiện nay: Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau: - Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc-Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. + Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng. 7 + Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng[14]. Quan niệm của Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: Ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt. - Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. - Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45. Một xã được gọi là nghèo có những đặc trưng cơ bản như sau: + Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ trong xã. + Không có hay thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt.
+ Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo chỉ địa bàn tương đối rộng, có thể là một số xã nằm liền kề nhau, hay một vùng dân cư nằm ở vị trí khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất để đảm bảo cuộc sống, là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao. Các tiêu chí xác định nghèo ở nước ta * Dựa trên thu nhập Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội đã dùng phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình để xác định nghèo, theo đó, một hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu người của họ được xác định dưới chuẩn được xác định. Chuẩn này khác nhau giữa thành thị, nông thôn, miền núi.
Ở nước ta, Chính phủ đã nhiều lần nâng mức chuẩn nghèo từ năm 1993 đến nay. Cụ thể: - Giai đoạn 1993-2005: Khu vực miền núi và hải đảo: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 40.000/tháng/người tương đương 480.000/năm/người trở xuống là hộ nghèo. Khu vực nông thôn: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 60.000/tháng/người tương đương 720.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo. Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 80.000 /tháng /người tương đương: 920.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo.
- Theo mục tiêu của chương trình “Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005”. Khu vực nông thôn, miền núi-hải đảo: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 80.000/ tháng/người tương đương 960.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo. 9 Khu vực nông thôn-đồng bằng: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 100.000/tháng/người tương đương 1.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo. Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 150.000/tháng/người tương đương: 1.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo.
- Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2005-2010. Khu vực nông thôn: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000/tháng/người tương đương 2.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo. Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 260.000/tháng/người tương đương 3.000 /năm/người trở xuống là hộ nghèo. - Hiện nay, chuẩn nghèo này đã không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tế và chính phủ đã ban hành mức chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 do Chính phủ ban hành năm 2005 đã không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
Do vậy, chính phủ đã đề xuất phương án điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho năm 2010 như sau: Khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Khu vực thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 390.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. - Mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 (Chỉ thị số 1752/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ) như sau: Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. 10 Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
* Dựa trên thu nhập và chi tiêu (Tổng cục thống kê) Tổng cục thống kê Việt Nam xác định chuẩn nghèo dựa trên thu nhập và chi tiêu theo đầu người. Chi tiêu bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó phần phi lương thực phải đảm bảo 2100cal/người/ngày. Các hộ được gọi là nghèo nếu mức thu nhập không đủ chi tiêu theo quy định [14]. * Dựa trên lương thực Phân loại hộ đói nghèo theo "chuẩn mực đói nghèo và mức độ đói nghèo ở Việt Nam" do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy định tại báo cáo số 13.