Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng giảm nghèo bền vững tại tỉnh Hà Giang từ năm 2005 đến nay Chương 4: Định hướng và giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2020. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Những công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận văn Giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn của Đảng, và là vấn đề thực tiễn đặt ra rất cấp bách đối với các ngành, các cấp cũng như mỗi người dân Việt Nam.
Vì vậy, xung quan vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm kiếm giải pháp tối ưu cho sự nghiệp giảm nghèo đảm bảo tính bền vững. Liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn, có thể kể đến các công trình chủ yếu sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo nói chung Đinh Đức Thuận và nhóm nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp (2005), trong “Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam“, Báo cáo trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác, do Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan, Cơ quan hợp tác và phát triển Thụy Sĩ, Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển đồng tài trợ, đã cung cấp các khuyến nghị cụ thể cho tiến trình hoạch định chính sách làm thế nào để rừng và sản phẩm từ rừng có thể đóng góp một cách bền vững vào việc cải thiện điều kiện sống của những người sống phụ thuộc vào rừng ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ rõ: ngày càng có sự chú ý tới xoá nghèo và phát triển kinh tế trên toàn đất nước.
Một thực tế đã được soi sáng là các khu vực rừng thường trùng với các khu vực nghèo thực sự và dai dẳng. Các hoạt động hiện nay còn đứng bên ngoài và thường chưa chú trọng xem xét làm thế nào để sử dụng, phát triển tài nguyên rừng bền vững và mang lại lợi ích cho người dân sống phụ thuộc vào rừng. Sự chú ý tập trung chủ yếu vào nông nghiệp và bảo vệ mà chưa xem xét tới phát triển kinh tế rừng, các chính sách trước đây được 4 z xây dựng và thực thi với ít sự tham gia của bản thân những người dân sống phụ thuộc vào rừng. Trần Tiến Khai & Nguyễn Ngọc Danh (2012), với “Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam“, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Đại học Kinh tế TP.
Hồ Chí Minh, Mã số: CS-2012-02 đã khẳng định: Tình trạng nghèo không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ báo về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội mà hộ gia đình có được. Nghiên cứu đã nhằm đến việc khám phá các quan hệ qua lại giữa tình trạng nghèo về tiền và các đặc trưng kinh tế - xã hội khác của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam dựa trên cách tiếp cận sinh kế và tìm kiếm các chỉ báo kinh tế - xã hội phù hợp cho đo lường nghèo đa chiều. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng có tối thiểu 10 chiều đo lường cho tình trạng nghèo đa chiều và đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế. Một số biến định lượng và phân loại được trích ra và sử dụng như là các chỉ báo phù hợp cho đo lường nghèo đa chiều.
Phân loại hộ dựa trên tình trạng nghèo đa chiều tỏ ra có hiệu quả thống kê tốt hơn khi tính đồng nhất trong từng nhóm được cải thiện rõ ràng so với phân loại hộ dựa trên chi tiêu bình quân đầu người. Nguyễn Đức Nhật và nhóm chuyên gia (2013) đã có công trình “Nghiên cứu mô hình giảm nghèo của các đối tác quốc tế ở Việt Nam“, Báo cáo trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)”, do Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội, Tổ chức UNDP, Tổ chức Iris Aid đã tài trợ. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: tình trạng đói nghèo ở mỗi vùng miền có đặc tính khác nhau và cần các phương pháp tiếp cận khác nhau; trong thực thi cần chú trọng tính tự chủ của địa phương, sự tham gia của người dân và lựa chọn đối tác triển khai phù hợp. Quá trình phân tích chỉ ra rằng, mô hình của các tổ chức quốc tế thành công 5 z hơn bởi họ tuân thủ các nguyên tắc của lý thuyết kinh tế, xây dựng động lực tham gia của các bên và trao quyền tự quyết cho người dân.
Các mô hình quốc tế cũng triển khai theo hướng nhỏ, chậm chắc và chú trọng về nâng cao năng lực so với các chương trình đại trà nhanh và thiếu kiểm tra đánh giá của nhà nước. Nhóm các công trình nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở vùng Dân tộc và miền núi Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Thành Độ, Vũ Thành Hưởng (1999), trong cuốn sách “Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo ở vùng Dân tộc và Miền núi phía Bắc nước ta hiện nay“, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội đã khái quát quá trình chuyển đổi sang KTTT và sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta; đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, thực trạng phân hoá giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta và đưa ra một số giải pháp giảm sự phân hóa giàu nghèo trong nền KTTT ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Cùng viết về chủ đề phát triển kinh tế miền núi, các tác giả Phạm Thái Hưng và cộng sự (2010) có bài “Nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135-II“, Hà Nội. Nghiên cứu này đã khai thác các khía cạnh quan trọng về mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS); mô tả một cách toàn diện về tình trạng nghèo và vấn đề mức sống của nhóm DTTS ở các xã đặc biệt khó khăn.
Mô tả này tập trung ở khía cạnh nghèo về thu nhập và các khía cạnh phi tiền tệ của vấn đề mức sống kinh tế (như: tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế và phát huy tính chủ động,. Đồng thời nghiên cứu về các yếu tố quyết định chênh lệch thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm DTTS khác bằng cách phân tích chênh lệch thu nhập: một là khác biệt về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai là sự khác biệt về thu nhập từ các đặc điểm và 6 z nguồn lực, ba là đã tìm hiểu đồng bào các DTTS nghèo được hỗ trợ từ những chính sách và chương trình hiện tại như thế nào. Sau những phân tích đó tác giả đã có những kiến nghị cho các chính sách và chương trình trong tương lai nhằm đưa ra những hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc nâng cao mức sống đối với nhóm DTTS. Báo cáo “Các nhân tố hỗ trợ và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn vốn sinh kế để giảm nghèo bền vững” trong khuôn khổ thực hiện các dự án nâng cao năng lực phát triển cộng đồng của chương trình Chia Sẻ - SIDA (2009) đã xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nghèo tiếp cận các nguồn lực để giảm nghèo bền vững.
Theo đó, 5 nguồn vốn sinh kế đã được phân tích bao gồm: nguồn vốn con người; nguồn vốn vật chất; nguồn vốn tài chính; nguồn vốn xã hội; nguồn vốn tự nhiên. Nghiên cứu cũng chỉ rõ: sự đóng góp các nguồn vốn sinh kế vào trong quá trình giảm nghèo đối với các nguồn vốn có sự khác nhau. Vì vậy, cần có cách điều chỉnh khác nhau trong việc tác động các nguồn vốn sinh kế vào mục tiêu giảm nghèo. Xét trong ngắn hạn, nguồn vốn tài chính và một phần nguồn vốn con người có tác động tích cực trong quá trình giảm nghèo.
Việc hỗ trợ gia tăng nguồn vốn tài chính từ các kênh khác nhau sẽ làm tăng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của hộ. Và điều này mang lại giảm nghèo trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ gia tăng nguồn vốn con người từ việc đào tạo tập huấn ngắn hạn cũng có tác động nhanh chóng. Xét về trung hạn, sự gia tăng nguồn vốn con người trên khía cạnh giáo dục, cơ sở hạ tầng sẽ mang lại kết quả giảm nghèo về trung hạn, ít nhất là trong thời hạn từ 3 - 5 năm.
Ví dụ, việc xây dựng đường giao thông hay cầu cống chỉ mang lại hiệu quả tốt cho giảm nghèo khi mà sản xuất của họ đã phát triển đến mức có thể tiếp cận với thị trường để gia tăng thu nhập. Hoặc là việc đào tạo chỉ có tác dụng tốt khi người dân được đào tạo đã có quá trình tích lũy kiến thức để có thể phát huy trong đời sống và sản xuất. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Trong hầu hết các công trình nghiên cứu cũng như các chương trình, dự án trong và ngoài nước được triển khai thời gian qua đều hướng đến giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, giảm nghèo bền vững cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức, cụm từ "giảm nghèo bền vững" được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy: hầu hết các nghiên cứu đều tập trung phân tích các đặc điểm nghèo đói, xác định các nguyên nhân của sự nghèo đói, các chính sách XĐGN cũng như các yếu tố cần thiết trong chính sách XĐGN. Nhiều nghiên cứu cũng đã đánh giá các tác động của các chính sách XĐGN chủ yếu qua các tiêu chí tính hiệu quả, tính hiệu lực, phù hợp và bền vững của chính sách. Gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và vấn đề giảm nghèo. Tuy nhiên, các vấn đề giảm nghèo bền vững, đặc biệt là giảm nghèo bền vững đối với tỉnh Hà Giang chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập, hoặc đã đề cập nhưng mới chỉ dừng lại ở thời điểm những năm trước 2012 và đề cập ở phạm vi mang tính chất vùng dự án hoặc tầm quốc gia.