CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THUC TIEN VE VIỆC LAM CHO NGUOI LAO DONG O NONG THON 1. Việc làm và các nhân tổ ảnh hưởng 1.1 Phân loại việc làm (công việc) * Phân loại công việc theo mức độ sử dụng thời gian lao động + Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có công việc đầy đủ là người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó dé nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cắm. Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản anh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm. Trên thực tế nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp thu nhập cũng thấp dang phổ biến ở lao động nông thôn.
Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc lam và cần được bổ sung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm day đủ. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: Mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập. Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay qui định đủ 36 giờ một tuần), mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hon mức tiền lương tối thiểu cho người lao động (nước ta hiện nay qui định mức lương tối thiêu cho một người lao động hưởng lương ngoài ngân sách nhà nước trong một tháng là: 1. Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ.
+ Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết qui thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không day đủ là người thiếu việc làm. 17 Theo tô chức lao động thế giới (ILO), thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dang sau. - Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. ; Thước do của thiêu việc lam vô hình là: Thu nhập thực tế K= x100 % Mức lương tối thiểu hiện hành - Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiêm thêm việc làm và luôn sẵn sàng đề làm việc.
Thược đo của thiêu việc làm hữu hình là: Số giờ làm việc thực tế KS __ =x100% Số giờ làm việc theo quy định - Khái niệm về thất nghiệp: Theo Luật Lao động nước ta sửa đồi và bổ sung năm 2002: “Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Từ day có thé rút ra được tiêu chuẩn dé xác định người là thất nghiệp: + Hiện đang chưa có việc làm + Có khả năng làm việc + Đang muôn tìm và có nhu câu làm việc 18 Có nhiều tiêu thức dé phân loại thất nghiệp: + Căn cứ vào thời gian thất nghiệp mà người ta chia thất nghiệp ra thành thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. Thất nghiệp dài hạn là thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc tính từ thời điểm điều tra trở về trước. Ở nông thôn tình trạng thất nghiệp không nhiều nhưng tình trạng thiếu việc làm thì phổ biến.
* Những người không thuộc lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còn được gọi là dân số không hoạt động kinh tế) bao gồm: Toàn bộ sô người chưa đủ từ 15 tuổi, những người ngoài tuôi lao động trở lên nên không thuộc bộ phận người có việc làm và thất nghiệp. Những người không hoạt động kinh tế vì các lý do: Đang đi học, dang làm công việc nội trợ cho gia đình, già cả ốm đau kéo đài, tàn tật không có khả năng lao động, tình trạng khác. - Người thất nghiệp Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ tham khảo không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sang làm việc nhưng không tìm được việc. * Trong khi phân loại cơ cấu các thị trường lao động hiện nay, thất nghiệp phân ra thành ba loại khác nhau: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu kỳ và thất nghiệp có tính cơ cấu.
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một số chuyển động nào đó do người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường hoặc chuyền đến một nơi sinh sông mới. Hay phụ nữ có thé trở lại lực lượng lao động sau khi sinh con. Do những công nhân thất nghiệp tạm thời thường chuyên công việc hoặc tìm những công việc mới tôt hơn, cho nên người ta 19 thường cho răng họ là những người thất nghiệp “tự nguyện”.
- That nghiệp có tính cơ cấu: xảy ra khi có sự mat cân đối giữa cung va cầu lao động, sự mat cân đối nay có thê diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm di, trong khi đó mức cung không được điều chỉnh nhanh chóng. Như vậy trong thực tế xảy ra sự mất cân đối trong các ngành nghề hoặc các vùng do một số lĩnh vực phát triển so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đối mới công nghệ. -That nghiệp chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp va không 6n định, những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra thất nghiệp chu kỳ. - Nguyên nhân thất nghiệp: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trước hết là do mat cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị trường lao động.
Xét quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường xảy ra ba trạng thái: Nếu cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tất yếu sẽ dẫn đến thất nghiệp. Nếu cung và cầu về lao động cân băng thì tình trạng thất nghiệp gần như không có. Nếu cung về lao động nhỏ hơn cầu thì sẽ không có thất nghiệp. Tuy nhiên đây là tình trạng rất ít xảy ra.
Nguyên nhân của thất nghiệp còn do tỉ lệ thời gian lao động ở nông thôn sử dụng chưa hết. Điều này dẫn đến lao động trong nông nghiệp đôi dư nhiều trong khi không có việc dé làm. Tình trạng di dân tự do từ các tỉnh, các vùng lân cận vào các đô thị lớn cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm. Theo xu thế chung thì sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các đô thị là lợi thế tạo ra sự hâp dân và sức hút làn sóng di dân từ các vùng nông thôn và các vùng lân 20 cận đến thành thị dé làm ăn sinh sống sẽ tăng lên.
Những bat cập trong dao tạo và chất lượng nguồn nhân lực cũng góp phan làm xuất hiện và gia tăng tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm. Do qua trình đào tạo không gắn với nhu cầu sử dụng và chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được với những đòi hỏi của nền kinh tế và những yêu cầu của thị trường lao động. Một nguyên nhân gây nên tình trạng thất nghiệp nữa là do chính sách giảm biên chế và sắp xếp lại cơ cấu trong các doanh nghiệp Nhà nước. Do sự phát triển mạnh mẽ và tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã biến nó trở thành lực lượng lao động trực tiếp của nền kinh tế - xã hội, làm cho năng suất lao động tăng cao đã day hàng loạt người lao động ra khỏi quá trình sản xuất (việc cơ giới hoá trong nông nghiệp trên địa bàn đã thay thế hàng nghàn lao động thủ công).
Ngoài ra, thất nghiệp còn có nguyên nhân là do tâm lý của người lao động trong việc lựa chọn ngành nghề, không chấp nhận làm những công việc nặng nhọc, thu nhập thấp. * Phân loại việc làm theo vi trí lao động của người lao động. +Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. +Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.2 Việc làm của lao động nông thôn phụ thuộc nhân t6 nào: 1.1 Nhân to chủ quan - Trình độ chuyên môn và sức khỏe là hai yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến quá trình tìm việc làm của lực lượng lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng.
21 - Hoàn cảnh xuất thân người lao động cũng là nhân tố ảnh hưởng quá trình tìm việc làm của lao động nông thôn. Người lao động có tuổi trẻ xuất thân trong gia đình khá giả sẽ có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn hơn đối với người lao động thuộc hộ nghèo. - Giới tính người lao động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tìm việc làm của lao động nông thôn. Thẻ hiện như, người lao động nông thôn có trình độ thấp công việc của họ chủ yếu là lao động chân tay cần sức khỏe tốt.
Do đó, nam giới thường kiếm việc làm dễ hơn đối với lao động nữ giới, tỷ lệ thời gian lao động hữu ich của nam giới cao hơn nữ giới.Yếu tô khách quan - Dân số: Số lượng và mức tăng dân số gây nên sức ép về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động. Chất lượng nguồn dân số cao hay thấp ảnh hưởng đến năng suất lao động, khả năng tìm việc làm và thu nhập của người lao động. Chính vì vậy, dân số ảnh hưởng đến việc làm của lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng. - Nhóm yếu tô điều kiện tự nhiên Trước hết, chúng ta tìm hiểu đến nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên.