Chương 1, Luật Việc làm ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2013, như vậy, nội dung điều này cho thấy hai tiêu thức bắt buộc để xác định hoạt động lao 14 Luan van động được thừa nhận là việc làm ở Việt Nam bao gồm tiêu thức về thu nhập và tính pháp lý của việc làm. Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập và việc làm. Hoạt động đem lại thu nhập được lượng hóa dưới các dạng như: + Người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ người sử dụng lao động.
+ Tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ. + Đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình hoặc hộ gia đình quản lý. Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm, điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức (Quốc hội, 2013). Hai tiêu chí đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như buôn lậu, trộm cắp, mại dâm thì không được thừa nhận là việc làm. Nếu căn cứ vào thu nhập đem lại cho người lao động thì có nhiều loại hoạt động có ích cho xã hội, gia đình cộng đồng nhưng không tạo ra thu nhập hoặc góp phần tạo ra thu nhập.
Từ những khái niệm trên, tác giả thống nhất khái niệm việc làm là hoạt động lao động của các cá nhân trong xã hội nhằm mục đích tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình (được trả công bằng tiền, hiện vật, trao đổi công hay tự làm cho gia đình không hưởng tiền công/lương) mà không bị pháp luật cấm. 15 Luan van Trong các cuộc điều tra Lao động việc làm ở Việt Nam, việc làm được xác định: Việc làm là mọi hoạt động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm (Tổng cục Thống kê, 2011). Trong đó, việc làm được phân thành hai loại, bao gồm: Việc làm được trả công: bằng tiền, hoặc dưới các hình thức khác mà người nhận tiền lương, tiền công, phải hoàn thành trong một thời gian nhất định với yêu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng công việc do người hoặc nơi trả công quy định, không phân biệt người đó hoặc nơi đó là cá thể hay cơ quan, doanh nghiệp, Hợp đồng lao động (bằng giấy hoặc th a thuận miệng) cho phép họ nhận được tiền lương, tiền công cơ bản mà khoản thu nhập này không phụ thuộc trực tiếp và kết quả hoạt động của cơ quan/đơn vị nơi họ làm việc. Việc tự làm: là các công việc mà thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Việc tự làm gồm các công việc tự làm của bản thân để tạo thu nhập hoặc làm cho kinh tế của hộ gia đình mình không hưởng tiền lương, tiền công. Phân loại việc làm theo vị trí lao động: Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi h i yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Việc làm bền vững: Khái niệm và nội dung về việc làm bền vững đã được các quốc gia trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, ) quan tâm trong các chương trình việc làm.
Theo ILO (2009), việc làm bền vững là cơ hội cho nam giới và nữ giới có được việc làm ổn định và năng suất trong điều kiện tự do, bình đẳng, và nhân phẩm được tôn trọng. Khái niệm việc làm bền vững được Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2009) xác định: “Việc làm bền vững là cơ hội việc làm có năng suất, có mức thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn ở nơi làm việc và bảo trợ xã hội về mặt gia đình”. 16 Luan van - Các quan điểm về tạo việc làm Vấn đề tạo việc làm được nhắc đến trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung-cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm” (Ban chấp hành Trung Ương, 2006). Các chương trình h trợ tín dụng, chuyển giao công nghệ và dạy nghề giúp người lao động nói chung và thanh niên nói riêng đầu tư sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm là một trong những nội dung hoạt động của các Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm, giảm nghèo và dạy nghề đến năm 2010 và 2015.
Khái niệm về tạo việc làm: Theo Trần Ngọc Diễn (2002) tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động. Tạo việc làm theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Quá trình đó diễn ra từ việc giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động tham gia vào thị trường lao động đến tự do lựa chọn việc làm và nhận lại những gì xứng đáng với giá trị lao động mà mình đã tạo ra. Tạo việc làm theo nghĩa h p chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm ch làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp.
Ngoài ra, tạo việc làm có thể được chia làm hai loại: + Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà tại ch làm việc đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên. Việc làm ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn. + Tạo việc làm không ổn định: Bao gồm các việc làm được tạo ra mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn. - Số lao động được tạo việc làm Trên cơ sở Quyết định số 43/2010QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 6/2010 về việc 17 Luan van ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, trong đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ, quyền hạn thu thập, tổng hợp chỉ tiêu số 0309 “Số lao động được tạo việc làm” (trước đây là Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg), Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10 tháng 1 năm 2011 Quy định nội dung hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia; danh mục nội dung hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã.
Theo quy định tại thông tư 02/2011/TT: “Số lao động được tạo việc làm” phản ánh số lượng người lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân tăng thêm hằng năm, là chênh lệch giữa số lao động có việc làm ở kỳ báo cáo và số lao động có việc làm của kỳ trước”. Đây là một trong những chỉ tiêu chính phục vụ cho việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Bộ, ngành, các địa phương đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động.2 Lao động * Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người. Đặc điểm của hoạt động lao động: Hoạt động lao động phải có mục đích của con người; Hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm th a mãn những nhu cầu nào đó của con người; hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người (Nguyễn Tiệp, 2007). * Sức lao động: Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động.
“Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động, là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được con người đó đem ra vận dụng m i khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008). * Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội (Nguyễn Tiệp, 2008). * Nguồn lao động: là toàn bộ những người có khả năng tham gia lao động, bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động và những người ngoài độ 18 Luan van tuổi lao động, nhưng thực tế còn khả năng và đang tham gia lao động (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Các thuật ngữ tương tự, liên quan đến nguồn lao động bao gồm: Lực lượng lao động, dân số làm việc và dân số hoạt động kinh tế.
Toàn bộ dân số có thể chia thành hai nhóm: Nhóm một gồm những người tham gia hoạt động kinh tế; nhóm hai là những người không tham gia hoạt động kinh tế. Nguồn lao động tiếp cận theo tuổi lao động và trạng thái hoạt động kinh tế, ngoài lực lượng lao động còn bao gồm cả những người trong độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia vào lực lượng lao động vì những lý do khác nhau như: nội trợ, học sinh, sinh viên,. Ngoài ra, nguồn lao động còn bao gồm cả những người trên độ tuổi lao động nhưng đang làm việc (Nguyễn Tiệp, 2008).