CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân Thu nhập cá nhân được hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kì nhất định ( thường là một năm ) Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kì tính thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác. Thuế thu nhập cá nhân dần được hoàn thiện theo thời gian. Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức thuế thu nhập với người có thu nhập cao.
Từ 01/01/2009, Luật Thuế thu nhập cá nhân chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này. Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn : “Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường là một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập”. Sự ra đời và tồn tại của thuế TNCN xuất phát từ các lý do chủ yếu sau : Thứ nhất, yêu cầu đảm bảo sự công bằng về thu nhập trong tiêu dùng hàng hóa công cộng và phân phối thu nhập, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường do sự phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi. Thuế TNCN là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân trong xã hội Thuế TNCN đánh vào thu nhập cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích” ,“công bằng” và “ khả năng nộp thuế”.
Theo nguyên tắc lợi ích của kinh 5 tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, dịch vụ hàng hóa công. Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng”. Trong đó, những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau ( công bằng theo chiều ngang ), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp ( công bằng theo chiều dọc ). Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu.
Trên nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân. Thứ hai, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng, chức năng của Nhà nước ngày càng mở rộng. Hơn nữa, tiến trình tự do hóa thương mại làm cho nguồn thu từ thuế xuất khẩu bị sụt giảm. Điều đó đặt ra như cầu tăng cường các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Thuế TNCN được coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu của NSNN Thứ ba, thuế TNCN được sử dụng như một công cộng điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực và hiệu quả xã hội. Do tính hữu dụng giảm dần của thu nhập ( mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp ), để tăng phúc lợi cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn. Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, hỗ trợ, ưu đãi… thuế thu nhập có thể có tác động trực tiếp tới định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước. Thứ tư, thuế TNCN lũy tiến còn có tác dụng bù lại sự suy thoái của các loại thuế tiêu dùng.
Tính chất lũy thoái của thuế tiêu dùng được biểu hiện : người giàu và người nghèo nếu cùng mua một sản phẩm sẽ đều chịu thuế tiêu 6 dùng như nhau. Vì vậy, thuế TNCN được coi là vai trò rất lớn trong thu NSNN 1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Một là, thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập của người nộp thuế, người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác. Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế.
Ba là, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập. Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do được đánh theo nguyên tắc “ khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội. Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa dịch vụ.
Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hóa dịch vụ. Sáu là, thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước và ngoài nước. Chính vì vậy khả năng tạo nguồn thu cho NSNN của thuế TNCN rất cao.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 7 Thứ nhất, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp trong xã hội. Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia.
Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội. Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế. Thứ hai, thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước về an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế… ngày càng gia tăng.
Thêm vào đó việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Thuế TNCN cũng góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ ba, thuế TNCN là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm. Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm. Thứ tư, thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu hợp pháp, không hợp pháp để có 8 những biện pháp xử lý phù hợp. Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN có thể giúp Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm, nguyên tắc và yêu cầu trong quản lý thuế 1.1 Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân Quản lý thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình ban hành và thực thi thuế TNCN nhằm tạo nguồn thu cho NSNN và đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Quản lý thuế thu nhập cá nhân là nhằm: - Đảm bảo nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân tập trung, chính xác, thường xuyên, ổn định vào ngân sách nhà nước Thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước. - Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư. Trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước thông qua công cụ pháp luật để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô.
Ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức kinh tế và dân cứ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này. Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành pháp luật thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “ sống và làm việc theo pháp luật” - Phát huy cao nhất vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế.