Tổng quan nghiên cứu

Quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp xây dựng là bài toán trọng yếu nhằm bảo toàn nguồn thu ngân sách nhà nước và thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch. Tại địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, tổng số thu ngân sách nhà nước đã ghi nhận bước phát triển từ 539,58 tỷ đồng năm 2018 lên 906,65 tỷ đồng năm 2019 và đạt 890,35 tỷ đồng năm 2020. Dù vậy, số thu thuế giá trị gia tăng lại có xu hướng suy giảm rõ rệt, từ mức 42,65 tỷ đồng năm 2018 xuống còn 37,29 tỷ đồng năm 2019 và chỉ còn 23,27 tỷ đồng vào năm 2020. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, toàn địa bàn huyện có 84 doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động với số thuế giá trị gia tăng đóng góp trực tiếp vào ngân sách là 5,8 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi bắt nguồn từ đặc thù của hoạt động thi công xây lắp: quy trình kéo dài, địa bàn thi công lưu động, thanh toán phụ thuộc vào tiến độ giải ngân của chủ đầu tư và việc hạch toán chi phí nhân công, vật tư dễ phát sinh sai phạm. Luận văn tập trung vào mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với khối doanh nghiệp xây dựng giai đoạn 2018 - 2020, xác định các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi khảo sát sơ cấp được thực hiện vào tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thuế khu vực Vĩnh Tường. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để cơ quan thuế địa phương tối ưu hóa nguồn thu, kiểm soát nợ đọng và ngăn ngừa rủi ro thất thu thuế gián thu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý tài chính công và lý thuyết hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế. Hoạt động quản lý thuế được tiếp cận theo chu trình quản lý hiện đại khép kín gồm: lập kế hoạch dự toán, tổ chức thu và kế toán thuế, thanh tra kiểm tra, quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế theo mô hình quản lý theo chức năng. Khung pháp lý chủ đạo bao gồm Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, Luật sửa đổi bổ sung số 31/2013/QH13, Thông tư 219/2013/TT-BTC, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị định 125/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn.

Về bản chất, thuế giá trị gia tăng là sắc thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ sản xuất đến tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp xây dựng, sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, giá trị lớn, thời gian hoàn thành kéo dài và mặt bằng thi công phân tán. Theo Khoản 5 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Thuế suất áp dụng phổ biến cho nhóm ngành này là 10% tính theo phương pháp khấu trừ giữa thuế giá trị gia tăng đầu ra và thuế giá trị gia tăng đầu vào hợp pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và chiều sâu khoa học, đề tài kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm toàn bộ 57 cán bộ, công chức ngành thuế (gồm 53 công chức phụ trách địa bàn huyện Vĩnh Tường và 4 lãnh đạo Chi cục) cùng toàn bộ 84 doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn huyện tại thời điểm tháng 3 năm 2021. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng do quy mô tổng thể vừa phải, giúp loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu ngẫu nhiên và phản ánh chính xác thực trạng của toàn địa bàn.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thu ngân sách, hồ sơ quyết toán và lưu trữ quản lý nợ của Chi cục Thuế khu vực Vĩnh Tường trong chu kỳ 3 năm từ 2018 đến 2020. Nghiên cứu sử dụng hệ thống phương pháp phân tích đa dạng: phương pháp thống kê mô tả nhằm tính toán điểm trung bình theo thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ với biên độ khoảng cách 0,8 (từ mức 1,00 đến 5,00 điểm); phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối nhằm đo lường biến động số thu; phương pháp phân tổ thống kê nhằm bóc tách cấu trúc doanh nghiệp và tình trạng nợ đọng. Việc lựa chọn các phương pháp này giúp lượng hóa các nhận định định tính về quy trình nghiệp vụ và chất lượng phục vụ của cơ quan thuế một cách khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn thu thuế giá trị gia tăng từ khối doanh nghiệp xây dựng chịu tác động mạnh từ chính sách điều tiết vĩ mô. Năm 2020, địa bàn quản lý 84 doanh nghiệp xây dựng, đóng góp 5,8 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, tổng số thu thuế giá trị gia tăng trên địa bàn huyện đã giảm 45,44% sau 3 năm, từ mức 42,65 tỷ đồng năm 2018 xuống còn 23,27 tỷ đồng năm 2020. Nguyên nhân trực tiếp là do quyết định phân cấp quản lý năm 2019 của Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc khi điều chuyển 84 doanh nghiệp có quy mô nguồn thu lớn về cấp tỉnh trực tiếp quản lý, kết hợp với các gói chính sách gia hạn, miễn giảm thuế của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua đại dịch.

Thứ hai, công tác quản lý kê khai và cấp mã số thuế đạt hiệu quả số hóa cao nhưng mức độ tuân thủ thời hạn vẫn còn khoảng cách. Tỷ lệ doanh nghiệp nộp tờ khai thuế điện tử đạt trên 98%, song tỷ lệ hồ sơ nộp chậm hoặc phải kê khai bổ sung điều chỉnh vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể. Nhiều doanh nghiệp nhỏ áp dụng hình thức khoán gọn chi phí theo công trình dẫn đến hồ sơ kê khai thuế giá trị gia tăng đầu vào không đồng nhất với dự toán thiết kế.

Thứ ba, công tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế đã phát hiện nhiều sai phạm có tính hệ thống. Trong giai đoạn khảo sát, Chi cục đã tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất hàng chục lượt doanh nghiệp xây dựng, qua đó truy thu và xử phạt hàng trăm triệu đồng tiền thuế giá trị gia tăng. Sai phạm phổ biến nhất là tình trạng doanh nghiệp sử dụng bảng chấm công thuê ngoài không có chứng từ hợp lệ để hạch toán chi phí đầu vào, hoặc xuất hóa đơn sai thời điểm nghiệm thu công trình nhằm trì hoãn nghĩa vụ thuế.

Thứ tư, tình trạng nợ thuế giá trị gia tăng và thời gian thu hồi nợ kéo dài là nút thắt nghiêm trọng. Doanh nghiệp xây dựng thường xuyên bị chủ đầu tư chậm giải ngân vốn đầu tư công, dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau. Nhiều nhà thầu phát sinh nợ thuế quá 90 ngày, buộc cơ quan thuế phải áp dụng các biện pháp đôn đốc và chuẩn bị phương án cưỡng chế hành chính.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng tại huyện Vĩnh Tường chịu chi phối bởi các yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, quy định thời điểm tính thuế theo biên bản nghiệm thu (bất kể đã thanh toán tiền hay chưa) đặt các doanh nghiệp xây dựng vào áp lực dòng tiền rất lớn, thúc đẩy hành vi cố tình chậm nộp tờ khai hoặc giấu doanh thu. Về chủ quan, năng lực quản lý rủi ro trên hệ thống quản lý thuế tập trung của một bộ phận cán bộ thuế cấp cơ sở chưa theo kịp các thủ đoạn gian lận hóa đơn vật liệu xây dựng.

Khi phân tích kết quả quản lý, các dữ liệu có thể được mô tả trực quan thông qua bảng đối chiếu dự toán và số thực thu theo từng năm, kết hợp với biểu đồ cột kép phản ánh sự phân hóa giữa quy mô số lượng doanh nghiệp và tỷ trọng đóng góp thuế. Bên cạnh đó, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu nợ thuế theo tuổi nợ (nợ dưới 90 ngày, nợ khó thu, nợ đang khiếu nại) sẽ làm nổi bật áp lực thu hồi nợ của cơ quan thuế.

Khi đặt trong tương quan so sánh với các đơn vị lân cận, công tác quản lý thuế xây dựng tại Vĩnh Tường bộc lộ nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có thách thức riêng. Tại thành phố Vĩnh Yên, số doanh nghiệp xây dựng do Chi cục quản lý tăng từ 155 đơn vị năm 2018 lên 274 đơn vị năm 2020, số thuế thu được năm 2020 đạt trên 4,8 tỷ đồng và số nợ đọng thuế được kiểm soát ở mức 572 triệu đồng. Tại Chi cục Thuế khu vực Tam Đảo, số lượng doanh nghiệp xây dựng năm 2020 là 63 đơn vị với số thuế thu đạt 19,5 triệu đồng và số nợ thuế duy trì khoảng 471 triệu đồng. So sánh này khẳng định bài toán quản lý thuế xây lắp tại các địa phương thuần nông nghiệp kết hợp đô thị hóa như Vĩnh Tường đòi hỏi phương thức quản lý nợ và thanh tra chặt chẽ hơn để tránh tồn đọng nợ xấu kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác lập và giao dự toán thu thuế giá trị gia tăng. Chi cục Thuế khu vực Vĩnh Tường cần chủ động phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch và các chủ đầu tư dự án công cộng trên địa bàn để nắm bắt danh mục dự án khởi công, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công giai đoạn 2022 - 2025. Mục tiêu cụ thể là kiểm soát sai số giữa số dự toán giao và thực tế thu thuế giá trị gia tăng khối xây dựng xuống dưới 5% vào cuối mỗi năm ngân sách.

Thứ hai, tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra thuế dựa trên quản lý rủi ro hóa đơn điện tử. Đội Kiểm tra thuế cần phân loại 100% hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp xây dựng theo mức độ rủi ro, tập trung kiểm tra chuyên đề về việc sử dụng hóa đơn mua bán vật tư (xi măng, sắt thép, cát sỏi) và bảng kê chi phí nhân công thuê ngoài. Kế hoạch hành động đặt mục tiêu kiểm tra trực tiếp tại trụ sở từ 12 đến 15 doanh nghiệp có rủi ro cao mỗi năm, phấn đấu tăng số thu truy thu và tiền phạt vi phạm hành chính từ 10% đến 15% trong giai đoạn 2022 - 2024.

Thứ ba, thực hiện quyết liệt các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế theo quy định tại Điều 125 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14. Đội Quản lý nợ thuế cần tiến hành phân loại chính xác các khoản nợ có khả năng thu và nợ khó thu, gửi thông báo điện tử đôn đốc nộp tiền chậm nộp định kỳ hàng tháng. Đối với các khoản nợ dây dưa quá 90 ngày, cơ quan thuế phải áp dụng biện pháp trích tiền từ tài khoản ngân hàng hoặc phong tỏa tài khoản, tiến tới thông báo ngừng sử dụng hóa đơn. Mục tiêu trọng tâm là kéo giảm tỷ lệ nợ đọng thuế giá trị gia tăng khối xây lắp xuống dưới 5% tổng thu ngân sách trước năm 2024.

Thứ tư, mở rộng các kênh tuyên truyền, hỗ trợ pháp lý và số hóa thủ tục thuế. Chi cục Thuế cần duy trì các buổi tập huấn chuyên đề trực tuyến, giải đáp vướng mắc về thời điểm xuất hóa đơn nghiệm thu giai đoạn hoàn thành theo Thông tư 219/2013/TT-BTC. Đồng thời, kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường chỉ đạo Kho bạc Nhà nước thực hiện nghiêm việc khấu trừ 2% thuế giá trị gia tăng đối với các công trình xây dựng cơ bản vãng lai khi thực hiện thanh toán vốn đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo và cán bộ công chức thuộc hệ thống ngành thuế, đặc biệt là các chi cục thuế khu vực có cơ cấu kinh tế đang trong tiến trình đô thị hóa nhanh. Công trình cung cấp bức tranh thực tế về các kẽ hở kê khai, các phương thức quản lý nợ đọng và cách vận hành quy trình kiểm tra thuế giá trị gia tăng chuyên sâu cho nhóm ngành xây dựng.

Thứ hai, ban giám đốc, kế toán trưởng và nhân sự phụ trách thuế tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng dân dụng và giao thông hạ tầng. Luận văn đóng vai trò như một tài liệu đối chiếu pháp lý hữu ích, giúp doanh nghiệp nắm vững nguyên tắc xác định doanh thu tính thuế tại thời điểm nghiệm thu công trình, giảm thiểu tối đa các rủi ro bị truy thu, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị cưỡng chế hóa đơn.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng và Quản trị kinh doanh. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo mẫu mực về cấu trúc đề tài định hướng ứng dụng, cung cấp phương pháp luận kết hợp dữ liệu thống kê chuỗi thời gian thứ cấp với khảo sát sơ cấp theo thang đo khoảng cách Likert.

Thứ tư, các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương như Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở để thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, trao đổi thông tin về tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và kiểm soát nghĩa vụ thuế của các nhà thầu thi công.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp xây dựng phải lập hóa đơn và xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng vào thời điểm nào? Theo Khoản 5 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Doanh nghiệp bắt buộc phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng đúng tại thời điểm ký biên bản nghiệm thu bàn giao, việc chờ chủ đầu tư thanh toán tiền mới xuất hóa đơn là hành vi vi phạm pháp luật thuế.

Tại sao tổng số thu thuế giá trị gia tăng tại huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2018 - 2020 giảm mạnh dù thu ngân sách chung vẫn tăng? Số thu thuế giá trị gia tăng giảm từ 42,65 tỷ đồng năm 2018 xuống 23,27 tỷ đồng năm 2020 do nguyên nhân cơ cấu. Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện phân cấp lại, chuyển 84 doanh nghiệp có số thu lớn từ Chi cục về Cục Thuế quản lý trực tiếp từ năm 2019. Đồng thời, năm 2020 Chính phủ ban hành chính sách gia hạn, giãn thời gian nộp thuế hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh, làm số thu thuế giá trị gia tăng thực tế phát sinh giảm cơ học.

Các sai phạm phổ biến nhất về thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp xây dựng địa phương là gì? Các sai phạm thường gặp gồm: cố tình trì hoãn xuất hóa đơn khi công trình đã hoàn thành bàn giao; hợp thức hóa chi phí vật liệu xây dựng trôi nổi bằng hóa đơn bất hợp pháp; kê khai chi phí nhân công thuê ngoài thông qua các bảng kê thiếu căn cước công dân hoặc hợp đồng lao động; và phân bổ chi phí máy móc thi công sai tỷ lệ dự toán nhằm khấu trừ khống thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu nào để bảo đảm tính khoa học và độ tin cậy của dữ liệu khảo sát? Tác giả đã áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ tổng thể thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên. Cỡ mẫu sơ cấp bao gồm toàn bộ 57 cán bộ, công chức thuế phụ trách địa bàn huyện Vĩnh Tường và toàn bộ 84 doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn. Việc khảo sát 100% đối tượng giúp dữ liệu đạt tính bao quát tối đa, phản ánh trung thực mọi góc nhìn giữa cơ quan quản lý và đối tượng chịu sự quản lý.

Cơ quan thuế áp dụng những biện pháp cưỡng chế nào khi doanh nghiệp xây dựng nợ đọng thuế giá trị gia tăng kéo dài? Căn cứ Điều 125 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thứ tự: trích tiền từ tài khoản người nộp thuế tại ngân hàng hoặc phong tỏa tài khoản; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; ngừng sử dụng hóa đơn; kê biên tài sản bán đấu giá; và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các trường hợp cố tình chây ỳ nợ đọng thuế.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp xây dựng tại địa bàn cấp huyện trong bối cảnh phân cấp quản lý thuế hiện đại.
  • Công trình phản ánh trung thực thực trạng số thu với 84 doanh nghiệp xây dựng đóng góp 5,8 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng năm 2020, đồng thời bóc tách nguyên nhân khiến tổng thu thuế giá trị gia tăng sụt giảm 45,44% qua 3 năm khảo sát.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các bất cập trong khâu quản lý nợ, tình trạng chiếm dụng vốn và sự thiếu đồng bộ giữa thời điểm nghiệm thu công trình với tiến độ thanh toán của chủ đầu tư.
  • Đề tài đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp trực tiếp có tính khả thi cao, bao gồm đổi mới lập dự toán, thanh tra kiểm tra hóa đơn rủi ro, áp dụng cưỡng chế nợ thuế quyết liệt và số hóa công tác hỗ trợ người nộp thuế.
  • Lộ trình thực hiện khuyến nghị được thiết lập rõ ràng cho giai đoạn 2022 - 2025, định hướng phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế, Kho bạc Nhà nước và chính quyền địa phương.

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho các nhà quản lý thuế, doanh nghiệp xây dựng và các nhà nghiên cứu chính sách tài chính công. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà thầu và nâng cao hiệu quả thu hút ngân sách nhà nước bền vững.