CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Khái quát về thuế TNDN 1. Khái niệm thuế TNDN: Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong quá trình phát triển của thuế. Thuế TNDN được áp dụng từ giữa thế kỷ 19 tại nhiều nước như Anh, Nhật,.
với các tên gọi khác nhau như thuế công ty, thuế lợi tức nhưng giống nhau về bản chất. Ở Việt Nam, từ 1953, khoản trích nộp lợi nhuận với DN quốc doanh và thuế lợi tức DN với DNTN đã được áp dụng, và trải qua nhiều lần thay đổi về tên gọi và nội dung, hiện nay, luật thuế TNDN được áp dụng thống nhất cho tất cả DN thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau. Theo luật số 14/2008/QH12 của Quốc Hội, người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa có thu nhập chịu thuế theo quy định. Doanh nghiệp tư nhân là một trong các tổ chức chịu thuế TNDN được quy định trong luật số 14/2008/QH12.
Về bản chất, thuế TNDN là sắc thuế trực thu tính trên lợi nhuận của các doanh nghiệp. Theo luật số 14/2008/QH12 của Quốc Hội, Thuế TNDN được tính theo thuế suất được quy định trong văn bản pháp luật trên tổng thu nhập chịu thuế của các DN trong một kỳ tính thuế. Đặc điểm Do thuế TNDN là một sắc thuế thuộc hệ thống thuế nên thuế TNDN mang những đặc điểm chung của thuế nhà nước. Ngoài ra, thuế TNDN có các đặc điểm riêng mà sẽ được nói cụ thể sau đây.
Đặc điểm đầu tiên của thuế TNDN là một loại thuế trực thu, người nộp Luan van 8 thuế TNDN là các DN có hoạt động một trong các lĩnh vực kinh doanh thương mại, sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ mà có phát sinh thu nhập chịu thuế. Người nộp thuế TNDN ở đây cũng có nghĩa là các doanh nghiệp chịu thuế TNDN. Thứ hai, số thuế TNDN phải nộp sẽ thay đổi tùy theo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở Thu nhập chịu thuế nên chỉ khi cơ sở kinh doanh có lãi mới phải nộp thuế.
Thứ ba, thuế TNDN thường có thuế suất đều. Khác với thuế TNCN – thường được thiết kế biểu thuế suất lũy tiến; thuế suất thuế TNDN thường được quy định một tỷ lệ nhất định và áp dụng cho mọi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện mục tiêu công bằng, luật thuế TNDN đặt ra nhiều trường hợp ưu đãi về thuế suất hoặc miễn giảm thuế. Từ năm 2016, thuế suất thuế TNDN phổ thông là 20% theo quy định tại Điều 10 của Luật số 32/2013/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 19/6/2013.
Thứ tư, thuế TNDN là sắc thuế khấu trừ trước thuế TNCN và ít gây phản ứng từ NNT như thuế TNCN. Vai trò “Thuế TNDN có phạm vi ảnh hưởng rộng, có chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong việc quản lý thu thuế của xã hội. Bên cạnh đó, thuế TNDN đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nguồn ngân sách Nhà Nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng chính sách về thuế TNDN để khuyến khích, thúc đẩy SXKD, điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội theo chiều hướng của chiến lược phát triển toàn diện trong từng thời kỳ.
Đầu tiên, Thuế TNDN là một công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện quản lý và phân phối lại thu nhập của các thành phần trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội. Trong tình hình kinh tế hiện nay, có các doanh nghiệp chiếm ưu thế và liên tục phát triển, có các doanh nghiệp sẽ bị lấn át và phát Luan van 9 triển chậm. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là khác nhau, dẫn đến một số doanh nghiệp siêu lợi nhuận, một số khác thì không có thu nhập. Nguyên nhân của hiệu quả kinh doanh không đồng đều nằm ở năng lực tài chính, thời điểm khởi nghiệp kinh doanh, lực lượng lao động, … của một doanh nghiệp.
Thường đối với các doanh nghiệp mới, tham gia vào thị trường cũng khó khăn và cần nhiều tài chính cho đầu tư cơ bản. Nếu Nhà nước không có chính sách phù hợp đối với các doanh nghiệp mới, các doanh nghiệp hoạt động tại các vùng miền có điều kiện khó khăn. Trong quá trình điều tiết và đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước sử dụng thuế TNDN như một công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp mới, các doanh nghiệp trên địa bàn có điều kiện khó khăn, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý. Thứ hai, Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước.
Thuế TNDN có phạm vi áp dụng tới tất cả các thành phần kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh trong lãnh thổ Việt Nam. Không giống như thuế GTGT tác động lên người tiêu dùng cuối cùng, thuế TNDN tác động trực tiếp tới lợi nhuận của chủ thể doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có doanh thu. Như vậy, một nền kinh tế khỏe mạnh, các doanh nghiệp mang lại càng nhiều lợi nhuận, thì nguồn tài chính cho NSNN thông qua thu thuế TNDN càn được đảm bảo. Thứ ba, Nhà nước sử dụng thuế TNDN để khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển theo kế hoạch phát triển đã được đề ra.
NN luôn xây dựng chính sách thuế TNDN ưu đãi, khuyến khích đối với DN đầu tư vào những vùng, miền mà NN có kế hoạch ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định như các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vào những ngành sản xuất đòi hỏi công nghệ cao, các vùng miền khó khăn,… ” Luan van 10 1. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm của quản lý thuế TNDN Xuất phát từ khái niệm quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra, khái niệm QLT TNDN đối với DNTN được hiểu là hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước (chủ yếu là cơ quan thuế) nhằm tập trung các nguồn thu từ các đối tượng nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật. Theo nghĩa hẹp, QLT TNDN đối với DNTN được hiểu đồng nghĩa với tất cả quá trình quản lý thu thuế, bao gồm hướng dẫn, quản lý, giám sát và kiểm tra lại việc chấp hành pháp luật thuế của đối tượng DNTN.
Tuy nhiên theo tác giả vấn đề QLT TNDN đối với DNTN phải được xem xét dưới góc độ của nền kinh tế nói chung, tức là quản lý các mối quan hệ về thuế của các chủ thể, bao gồm: Nhà nước (cơ quan định ra chính sách thuế), các đối tượng NNT (DNTN) và bộ máy QL hành chính thuế. Do vậy, theo tác giả, khái niệm QLT TNDN đối với DNTN cũng cần được xem xét nhìn nhận ở góc độ và bình diện rộng lớn hơn. Cụ thể: QLT TNDN đối với DNTN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của Nhà nước lên các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế, nhằm đạt được các mục tiêu QLT TNDN đối với DNTN một cách có hiệu lực và hiệu quả. Mục tiêu và nguyên tắc của QLT TNDN ”Các mục tiêu được hướng tới trong việc QLT TNDN đối với DNTN trong nền kinh tế quốc dân về cơ bản là: Mục tiêu đầu tiên là tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu về thuế TNDN cho NSNN nhưng phải trên cơ sở nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.
Tức là một mặt phải thu đúng, thu đủ số thuế phải nộp về NSNN, nhưng đồng thời tạo điều kiện cho NNT tiếp tục phát triển. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới, số thu bằng thuế chiếm một tỷ trọng ổn định trong tổng số Luan van 11 thu vào NSNN. Do vậy, công tác quản lý thuế hiệu quả sẽ giúp nhà quản lý hiểu rõ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có tác dụng lớn trong công tác thu thuế cho NSNN. Theo Nghị quyết số 35/NĐ-CP ngày 16/5/2016 có nêu rõ mục tiêu của quản lý doanh nghiệp tới năm 2020 như sau: “Đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh.
Khu vực tư nhân Việt Nam đóng góp Khoảng 48 - 49% GDP, Khoảng 49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp Khoảng 30 - 35% GDP. Năng suất lao động xã hội tăng Khoảng 5%/năm. Hàng năm, có Khoảng 30 - 35% doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo.” Như vậy, với sự tác động một cách gián tiếp và trực tiếp từ các chính sách thuế lên thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, nhà quản lý có thể tác động lên quá trình phát triển kinh tế, là cơ sở tạo ra nguồn thu thuế về sau.
Do vậy, nhằm nuôi dưỡng và tăng cường nguồn thu thuế TNDN cho NSNN trong tương lai, nhà quản lý phải chú ý, phát triển cơ sở tạo và ổn định số thu của NSNN trong tương lai. Ba là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các DN, trong đó có DNTN. Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua công cụ luật pháp để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Ý thức chấp hành luật pháp của các DN sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nước đến nền kinh tế.
Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật thuế TNDN cùng với việc tăng cường tính pháp chế của Luật thuế TNDN, ý thức chấp hành các Luật thuế TNDN được nâng cao, từ đó tạo ra thói quen “sống và làm việc theo pháp luật” trong mọi DN, trong đó bao gồm DNTN.” Luan van 12 Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng đều cần tuân thủ giá trị cốt lõi đã được nêu rõ trong tuyên ngôn ngành thuế ban hành theo Quyết định số 1766/QĐ-TCT ngày 01/11/2012. Tuyên ngôn có nêu rõ giá trị của việc coi trọng, xây dựng và gìn giữ sự công khai minh bạch, sự hiệu quả trong quản lý thuế.” Nguyên tắc công khai, minh bạch là giá trị đầu tiên được đề cập trong tuyên ngôn ngành thuế. Thu thuế là một hoạt động tài chính của Nhà nước có tác động rất lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của đối tượng nộp thuế.