CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm về thuế Hiện nay chưa có một khái niệm nào thống nhất về thuế, còn nhiều quan điển, khải niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận.
Một số khái niệm về thuế được thừa nhận rộng rãi như sau: Theo Marx và Engels, “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước đó là thuế má” (Nguyễn Bằng Tường, 2010). Theo tài liệu của ngành thuế Việt Nam, “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội” (Tổng cục Thuế, 2005). - Về nguồn gốc của thuế: “Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương, thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài”.
(Đào Thị Cẩm Nga, 2015) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Để có nguồn tài chính phục vụ cho nhu cầu chi tiêu chung, “Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó, hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức tự nguyện, không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt, để bổ sung cho những nhiệm vụ chi đột xuất hoặc cấp bách. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực bắt buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách Nhà nước”. Đây được coi là hình thức cơ bản nhất để huy động và tập trung nguồn tài chính cho đất nước.
“Hình thức Nhà nước dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình - chính là thuế”. “Thuế luôn gắn chặt với sự hình thành và tồn tại của hệ thống Nhà nước, đồng thời thuế cũng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống Nhà nước”. Về thời gian xuất hiện, “thuế xuất hiện từ khá lâu, từ lúc Nhà nước bắt đầu xuất hiện, tuy nhiên khoa học về thuế chỉ ra đời vào cuối thời kỳ phong kiến, đầu thời kỳ chủ nghĩa tư bản. Các lý thuyết về thuế được xây dựng trên các học thuyết kinh tế dựa trên cơ sở một nền kinh tế thị trường” (Nguyễn Thị Liên, 2016).
Trong nền kinh tế thị trường, “tùy theo mức độ thị trường hóa các quan hệ kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia, mà các chính phủ vận dụng các lý thuyết vào hệ thống chính sách thuế của mình một cách thích hợp. Việc suy tôn học thuyết này hay học thuyết khác chỉ mang tính lịch sử, không mang tính đối kháng và điều quan trọng nhất cho các nhà hoạch định chính sách thuế các quốc gia là tìm ra những ứng dụng hiệu quả nhất để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của thuế trong cơ chế thị trường mà không quá chú trọng vào trường phái lý thuyết nhất định” (Nguyễn Thị Bất, 2012). Tóm lại, thuế là một khoản đóng góp bằng tiền mà các “thể nhân và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 pháp nhân” phải có nghĩa vụ bắt buộc thực hiện theo luật đối với Nhà nước; “không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng” (Luật Ngân sách Nhà nước 2015). - Bản chất của thuế: “Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế”. Về mặt lý luận, “bản chất của Nhà nước vốn mang tính giai cấp. Không có một Nhà nước phi giai cấp mà chỉ có Nhà nước của giai cấp nào mà thôi. Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp” (Nguyễn Thị Liên, 2016).
- Chức năng của thuế: Trên cơ sở nghiên cứu nội dung và “quá trình ra đời, tồn tại và phát triển” của thuế, ta thấy thuế có một số chức năng cơ bản như sau: + Chức năng “huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập”. + Chức năng điều tiết: “Điều tiết kinh tế; Điều tiết tiêu dùng; Điều tiết xã hội” (Nguyễn Thị Liên, 2016). - Vai trò của thuế: (1) Thuế là “nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN). Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN.
NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN. Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hóa tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân.
Vì vậy, xã hội có trách nhiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phải tôn trọng người nộp thuế (NNT), những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp”. (2) Thuế là “công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng.
Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định. Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội. Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này” (Nguyễn Thị Bất, 2012).
Việc điều hòa, phân phối lại thu nhập giữa các các nhân, tầng lớp dân cư trong xã hội được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu, đặc biệt thể hiện rõ nhất là qua loại thuế tiêu thụ đặc biệt. Loại thuế này “có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền. Các hàng hóa, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng hoặc sử dụng nhiều”, qua loại thuế này có thể điều tiết bớt một phần thu nhập từ tầng lớp có thu nhập cao sang tầng lớp có thu nhập thấp hơn thông qua chi tiêu ngân sách nhà nước. Ngoài ra, đối với các sắc thuế trực thu, trong đó biểu hiện rõ nhất là thuế thu nhập cá nhân được áp dụng theo hình thức thuế suất lũy tiến có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập của các thành viên trong xã hội, đảm bảo công bằng cho tổng thể xã hội.
(3) Thuế là “công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 xuất, kinh doanh. Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có”. Trên cơ sở thực hiện công tác thu thuế, cơ quan quản lý thuế sẽ phát hiện ra những vướng mắc, khó khăn mà đối tượng nộp thuế gặp phải để tìm cách hỗ trợ, giúp đỡ, triển khai các biện pháp tháo gỡ hữu hiệu.
Đồng thời, cũng qua việc quản lý thu trên thực tiễn, cơ quan thuế cập nhật, bổ sung được nhiều kiến thức về quản lý kinh tế để rút kinh nghiệm, có những điều chỉnh để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát. Tóm lại, qua công tác quản lý thu thuế cơ quan thuế có thể kết hợp “kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhàn ước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội” (Nguyễn Thị Bất 2012). (4) Thuế “góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.