CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE BẢO HIẾM XÃ HOI VÀ QUAN LÝ THU BẢO HIẾM XÃ HOI 1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội BHXH ra đời và phát triển khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở Châu Âu, chính vì vậy có thể nói, BHXH có một lịch sử khá lâu đời, có nhiều thay đổi về chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới. BHXH nhăm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nan, mat việc làm,.
làm giảm hoặc mắt thu nhập. Tuy nhiên, do tính chất lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và cho đến nay, BHXH van là vân dé còn nhiêu tranh luận. Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mat thu nhập từ lao động hoặc phát sinh những chi phí cần được hỗ trợ như: Om dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tudi lao động, chết,. dựa trên cơ sở hình thành quỹ tài chính dưới sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự bảo hộ của Nhà nước nhằm 6n định đời song cho người lao động va gia đình họ, đồng thời gióp phan đảm bảo an sinh xã hội.
Bản chất và chức năng của bảo hiểm xã hội © Bản chất của BHXH — BHXH là nhu cầu khách quan, đa dang và phức tạp của xã hội nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển ở một mức nào đấy. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện, có thể nói BHXH là nhu cầu cần thiết để đảm bảo các tiêu chuân hay giá trị cho cuộc sông tôi thiêu. — Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH là mối quan hệ bao gồm: Bên tham gia BHXH; Bên BHXH (thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra va bảo trợ); Bên được BHXH (là NLD và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết). — Những rủi ro xảy ra trong BHXH có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như ốm đau, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động.
hoặc là những trường hợp không hoàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản. 4 — Phan thu nhập của NLD bị giảm hoặc bị mat đi khi gặp phải sự có, rủi ro sẽ bù dap hoặc thay thé từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tôn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia bảo hiểm đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. — Nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yêu của NLD trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập, mất việc làm đề đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ, chăm sóc sức khoẻ và chống lại bệnh tật là mục tiêu của BHXH.
Như vậy BHXH không phải là loại hình bảo hiểm cá nhân hay cá nhân tự bảo hiểm mà nó là sự bảo hiểm đặt tại những mối quan hệ nhất định trong cộng đồng. Ngoài ra, BHXH không thé tách khỏi một chế độ chính trị nhất định và phải dựa trên nền kinh tế cụ thể. e Chức năng cua BHXH Thứ nhất, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Thứ hai, BHXH đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động.
Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Giúp người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, tích cực trong lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Giúp các nhà đầu tư yên tâm tính toán để phát triển sản xuất, không bị phá sản ké cả khi có rủi ro lớn xảy ra. Bên cạnh đó, BHXH còn kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân, thu hút nhà đầu tu , nâng cao năng suât lao động cho xã hội.
Thứ tư, BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gan bó các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và các lợi ích xã hội. Cụ thé như sau: + Thu hút lao động có tiềm năng trong xã hội vào khu vực thuộc phạm vi bảo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, trong thời kì nền kinh tế kế hoạch tập trung, khu vực Nhà nước luôn hấp dẫn người lao động. + Muốn khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, dịch chuyền quan hệ lao động dé phân phối lao động theo yêu cau của thị trường thì phải mở rộng BHXH, kết hợp hình thức bắt buộc và hình thức tự nguyện trong BHXH.
+ Giúp điều hòa mâu thuẫn về tiền lương tiền công cũng như thời gian lao động giữa chủ và thợ. Điêu này làm cho các bên có trách nhiệm với nhau hơn, gan bó lợi ích được với nhau, theo đó hợp tác va phát triển cùng có lợi. Vai trò của bảo hiểm xã hội e Đối với người tham gia bảo hiểm - Đối với người lao động + BHXH là chính sách xã hội được Nhà nước thực hiện đối với NLĐ. Nhờ có BHXH mà rủi ro, bất lợi của NLD được dàn trải, từ đó góp phần 6n định thu nhập, ôn định cuộc sống cho NLD và gia đình của họ khi NLD gặp phải các rủi ro, biến cô như ốm dau, sinh đẻ, tai nạn lao động — bệnh nghề nghiệp hay về gia,.
+ BHXH là chỗ dựa vững chắc về tâm ly giúp NLD yên tâm làm việc, gắn bó với đơn vị công tác. Từ đó giúp họ phát huy khả năng sáng tạo trong lao động sản xuât cũng như nâng cao năng suât lao động cá nhân. - Đôi với người sử dụng lao động Thực tế trong quá trình lao động sản xuất, giữa NLD và NSDLD luôn xảy ra những xung đột nhất định về tiền lương, tiền công, thời gian lao động.và khi những rủi ro xảy ra, nếu có không có sự trợ giúp của BHXH thì dễ dẫn đến những xung đột và tranh chấp giữa hai giới chủ - thợ. Vì vậy, BHXH góp phần điều hoà, hạn chế những mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường làm việc 6n định cho NLD va tạo sự ồn định trong công tác quản lý cho NSDLD.
Tu đó nâng cao khả năng sản xuât của doanh nghiệp. Hơn nữa NSDLĐ muốn 6n định phát triển sản xuất kinh doanh chang những phải đầu tư vào máy móc, trang thết bị,.mà còn phải chăm lo đến đời sống của NLD mà họ thuê mướn. Nhưng trong cuộc sống, luôn tiềm ân những rủi ro có thé xảy ra bất cứ lúc nào đối với NLĐ, và khi đó NSDLĐ sẽ không có người làm thuê cho mình, do đó quá trình sản xuất, kinh doanh sẽ bị gián đoạn rồi dẫn đến năng suất giảm và cuối cùng là giảm thu nhập của NSDLĐ. Nhưng khi có sự tham gia của BHXH, có sự trợ giúp về mặt tài chính thi NLD nhanh chóng được phục hồi những thiệt hại xảy ra, nhanh chóng quay lại với công việc, góp phan nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
© Đối với xã hội - BHXH là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH). Sự vững chắc của hệ thống ASXH của một quốc gia được phản ánh qua chính sách BHXH của quốc gia đó. Về cơ bản, BHXH góp phan ổn định va nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đăng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đây sản xuất phát trién. - BHXH điều tiết các chính sách trong hệ thống.
Cụ thé, ASXH, BHXH và cứu trợ xã hội là những nội dung của chính sách ASXH. Đây đều là những chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, chúng có quan hệ vô cùng chặt chẽ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Tất cả góp phan ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, từ đó góp phần ồn định xã hội. - Đối với Việt Nam, BHXH trực tiếp thể hiện vai trò mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang phấn đấu, xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Quỹ bảo hiểm xã hội Tại Khoản 4, Điều 3, Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hồ trợ của Nhà nước. Cũng tại Khoản 4, Điều 5, Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định Quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch. Quỹ được sử dụng đúng mục đích, hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần. Cụ thé, quỹ bảo hiểm xã hội được đóng góp từ tiền của các bên khi tham gia BHXH, bao gồm người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước bù thiếu với mục đích chỉ trả cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH.
Thông qua đó, cùng với BHXH, quỹ BHXH đảm bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH trong cả nước và giúp hệ thống an sinh xã hội được ổn định. Không chỉ hỗ trợ cho con người khi tham gia vào BHXH, mà quỹ BHXH còn giúp Nhà nước trợ cấp cho xã hội, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội khi có thiên tai, han hán, bệnh dịch xảy ra. Quỹ BHXH được sử dung chủ yếu dé chi trả cho các mục đích sau đây: - Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH; - Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH; - Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH. Trong 3 nội dung chỉ nêu trên thì chỉ trả trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn nhất và quan trọng nhất.
Khoản chi này được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH. Khoản chi thứ hai trong BHXH là chi cho sự nghiệp quản lý BHXH.