CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BẢO HIẾM XÃ HỘI VÀ QUAN LY THU BẢO HIẾM XÃ HỘI BAT BUỘC 1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội BHXH là nhu cầu khách quan, phức tạp của xã hội, nhất là xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện.
- VỀ phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn xã hội - _ Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm thông qua quá trình hình thành một quỹ tiền tệ chuyên dùng đề đáp ứng nhu cầu chi trả bảo hiểm cho NLD va gia đình họ khi gặp rủi ro về thu nhập trong lao động sản xuất hoặc mất nguồn nuôi dưỡng. - _ Về phương diện chính trị: BHXH đã trở thành quyền cơ bản của NLD, xét trên cả phương diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời, đó cũng là trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ, chính vì thế, BHXH là một chính sách hết sức quan trong, là mau chốt trong công tác an sinh xã hội của các quốc gia. Khái niệm về bảo hiểm xã hội BH nói chung và BHXH nói riêng đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của nhân loại và được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều khía cạnh cũng như là góc nhìn khác nhau.
BHXH đã xuat hiện và phát triển đồng thời với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của văn minh nhân loại. Ngay từ đầu thế kỷ 13 và đến thế kỷ 19, tại Đức đã có đạo luật đầu tiên quy định về BHXH. Khi mà sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển làm cho tang lớp những NLD lựa chọn đi làm thuê trở nên đông đảo, đi kèm với đó là sự tăng trưởng của rủi ro trong thời gian lao động. Dé có thé bảo vệ cho chính ban thân minh, NLD đã dau tranh và buộc giới chủ phải cam kết bồi thường cùng với đảm bảo an toàn cho các khoản thu của họ.
Quá trình này đã dẫn tới sự ra đời của của các tô chức BHXH. Hoạt động BHXH đã được thực hiện dựa trên cơ sở đóng góp của giới chủ, giới thợ và sự tham gia của Nhà nước trong một số trường hợp nhất định. Trong quá trình hình thành và phát triển, các chế độ và phạm vi đối tượng BHXH dần dần được mở rộng. Ban đầu mới chỉ có chế độ BHXH ốm đau và tai nạn lao động cho công nhân ngành công nghiệp, nhưng sau đó đã mở rộng chế độ BHXH đối với NLD đi làm thuê trong ngành nghề, lĩnh vực khác.
Tháng 6/1952, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 102 về các tiêu chuẩn tối thiểu đối với các loại trợ cấp như sau: 1. Chăm sóc y tế; Trợ cấp ốm đau; SĐ®FÐm©YDCœ Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuôi già; Trợ cấp tai nan lao động và bệnh nghề nghiệp Trợ cấp gia đình; Trợ cấp thai sản; Trợ cấp tàn tật; Trợ cấp mắt người nuôi dưỡng. Công ước 102 của ILO cũng đã đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng ké về thu nhập gây ra bởi 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã thể hiện được sự kết hợp giữa hai mặt kinh tế và xã hội của BHXH.
Tuy theo điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của từng nước dé Nhà nước có thé quyết định áp dụng các loại trợ cấp này. Bên cạnh đó còn có một số nước mở rộng thêm các loại hình trợ cấp khác cũng như là các đối tượng hưởng trợ cấp phù hợp với đất nước mình. Đối với Việt Nam, BHXH đã có mầm mống đầu tiên từ thế ki 17 đưới dạng quỹ thương, nghĩa điền, và đến thế kỉ 19 đã xuất hiện các hội tương tế để giúp đỡ lẫn nhau. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến công tác BHXH.
Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh về chính sách BHXH, và sau đó là Điều lệ tạm thời quy định các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang. Chính sách BHXH ban hành đã kip thời và phù hợp với từng giai đoạn cách mang, dap ứng nhiệm vụ cách mạng cho từng thời kỳ, đồng thời đảm bảo nguyên tắc hưởng thụ theo công hiến có tính đến sự ưu đãi cho người lao động cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân. Qua nhiều lần ban hành, sửa đối, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính tri xã hội của từng thời kỳ, chính sách BHXH ở nước ta đã đạt được những kết quả to lớn trong việc 6n định đời sống cho hàng triệu người lao động. Trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế, trước sự biến đổi lớn lao và không ngừng của xã hội Việt Nam, ké từ sau khi đất nước thống nhất và nhất là từ khi nền kinh tế chuyền sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH cũng đã bộc lộ một số nhược điểm và có lúc chưa theo kịp với đà phát triển của nền kinh tế xã hội.
Việc xây dựng, hoạch định, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra giám sát quá trình quản lý sự nghiệp BHXH ở nước ta đã trở thành một đòi hỏi mang tính tất yêu và cấp bách trong quá trình chuyền sang kinh tế thị trường. Sự thay đôi mang tính bước ngoặt đó được đánh dấu bằng việc thực hiện Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/5/1995 của Chính phủ. Điều lệ BHXH đã được thực thi cho thấy tính đúng đắn cần thiết của nó đối với đời sông xã hội và cũng cho thay chính sách BHXH ở nước ta thực sự đã trở thành chỗ dựa vững chắc của người lao động và góp phan tích cực đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước. Với sự phát triển nhanh chóng, Đảng, Nhà nước đã khăng định tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của BHXH là trọng tâm trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội đất nước và được nâng tính pháp lý lên thành Luật BHXH (được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 ban hành ngày 29/6/2006).
Trong quá trình phát triển, khái niệm về BHXH dan được hoàn chỉnh hướng tới tiếp cận các quy định và yêu cầu của hội nhập quốc tế: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam có viết: “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù dap một phần thu nhập cho NLD khi họ mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tat, thất nghiệp, tuổi gia, tử tuat, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. Theo quy định tại Điều 3 Luật BHXH số 71/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/06/2006: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do ốm dau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH”. Tựu chung lại, có thé hiểu BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLD khi ho gặp phải rủi ro, biến cé về sức khỏe, mat khả năng lao động, mất việc làm, chết; đi cùng với đó là quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính giúp đảm bảo mức sống cơ bản cho bản than NLD và gia đình họ, từ đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Về cơ bản, BHXH là một phương thức phân phối lại thu nhập bằng các kĩ thuật nghiệp vụ, từ đó góp phần cân băng thu nhập bị mat hoặc giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằng khoản tro cấp từ BHXH.
Vai trò của bảo hiểm xã hội * Đối với người lao động BHXH được thành lập với mục đích chủ yếu là đảm bảo thu nhập cho NLD và gia đình họ khi họ gặp khó khăn trong cuộc sống làm suy giảm hoặc mất thu nhập. Vì thế, việc tham gia BHXH sẽ tạo điều kiện cho NLĐ được cộng đồng tương trợ khi gặp ốm đau, tai nạn lao động,. Bên cạnh đó, BHXH cũng là cơ hội dé mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ của mình cho những khó khăn của thành viên khác trong cộng đồng. Cùng với đó, tham gia BHXH cũng giúp NLD nâng cao hiệu quả trong tiêu dùng cá nhân, giúp NLD tiết kiệm được những khoản nhỏ, đều đặn dé có nguồn dự phòng cần thiết dé tiêu dùng khi nghỉ hưu, mat sức lao động.
góp phần ôn định cuộc sống cho chính bản thân và gia đình. Đây là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn làm cho họ giảm bớt lo lắng và 6n định tinh thần khi 6m đau, tuổi già,. Qua đó, BHXH đã tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng cho NLD khi họ tham gia BHXH, góp phan nâng cao đời sống tinh than, dem lại cuộc sông thoải mái, hạnh phúc cho các cá nhân trong cộng đông. * Đối với người sử dụng lao động BHXH giúp cho các tổ chức sử dụng lao động, các doanh nghiệp ồn định hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho NLD một cách hợp lý, từ đó góp phan làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị trở nên ôn định, sản xuất kinh đoanh được hoạt động liên tục, hiệu quả, các bên của quan hệ lao động cũng trở nên gắn bó với nhau hơn.