CHƯƠNG 1: MOT SO LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN LÝ THU BHXH 1. Một số khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2007), “BHXH là sự bảo đảm, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mắt hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuôi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phân bảo đảm an toàn xã hội”. Theo công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (2013), “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng dé đối phó với những khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng việc hoặc bị giảm bớt nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và tự câp cho các gia đình đông con”.
Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì BHXH là “Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mat kha năng lao động hoặc mat việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.” Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mat thu nhap do ốm dau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tudi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Từ các quan niệm về BHXH nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về BHXH như sau: BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi người lao động bị mắt hoặc giảm thu nhập, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước. Khái niệm thu bao hiểm xã hội Thu BHXH bắt buộc (gọi tắt là thu BHXH) là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buôc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng hoặc phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó dé hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH.
Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội Quản lý thu BHXH là quá trình tổ chức thực hiện chế độ chính sách có tính pháp lý dé điều chỉnh các hoạt động thu tiền đóng BHXH về quỹ BHXH. Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp nghiệp vụ mang tính hành chính, tổ chức, kinh tế. của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu BHXH đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định. Do vậy, quản lý thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH.
Đề thu BHXH đạt hiệu quả cao thì phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ, hợp lý, khoa học. Vì vậy, quản lý thu BHXH phải được tô chức thống nhất trong cả hệ thống, từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả, đôn đốc kiểm tra vàquản lý tiền thu BHXH. Theo Luật BHXH quy định thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hiện nay bao gồm: - Người sử dụng lao động: gồm các cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp của nhà nước; doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các tổ chức chính tri; tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tô chức xã hội - nghề nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã; hộ kinh doanh cá thé; tổ hợp tác, các tổ chức va cá nhân khác có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động; cơ quan, tô chức, cá nhân nước ngoài, tô chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. - Người lao động: là những người lao động làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động nêu trên, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; người lao động làm việc theo hợp đồng lao 4 động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định về pháp luật lao động; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ, sỹ quan, hạ sỹ quan kỹ thuật; công an nhân dan; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và hạ sỹ quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang; phu nhân, phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân/ phu quân tại các cơ quan; hợp đồng với các tô chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghè; hợp đồng trúng thầu, nhận thầu hoặc đầu tư ra nước ngoài; hợp đồng cá nhân (Quốc hội 2006, Luật BHXH).
Nguyên tắc và vai trò của quan lý thu bảo hiểm xã hội 1. Nguyên tắc của quan lý thu bảo hiểm xã hội Công tác thu BHXH phải đảm bảo đủ 4 nguyên tắc: (1). Thu đúng, thu đủ và thu kip thời (2). Tập trung, thống nhất, công bằng và công khai (3).
Hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần (4). An toàn, hiệu quả 1. Thu đúng, thu đủ và thu kip thời Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên của thu BHXH. Thu đúng ở đây là phải đảm bảo thu đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH, và đúng về quy trình hồ sơ thủ tục theo quy định.
Thu đủ là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng theo quy định của người lao động, người sử dụng lao động. Thu kịp thời là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền công. Việc thu thực hiện theo định kỳ hàng tháng, hang quý (căn cứ vào hoạt động va cách thức trả lương của đơn vi), đảm bảo không dé nợ, nợ đọng BHXH. Chính sách, chế độ tạo lập và sử dụng quỹ được ban hành thực hiện thống nhất trong toàn quốc.
Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính. Bên cạnh đó, phải thực hiện chế độ công khai quỹ, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát quỹ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ Nội vụ. Tất cả các chế độ chính sách đối với mọi đối tượng phải được áp dụng và điều chỉnh một cách thống nhất trong toàn ngành để đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho NLĐ, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ. Đây là nguyên tắc cao nhất trong quản ly thu BHXH cũng như trong hoạt động BHXH nói chung.
Bởi lẽ, chỉ có như vay mới thực hiện được vai trò và mục đích của thu BHXH, tạo ra được một nguồn lực to lớn dé thực hiện các chế độ BHXH cho NLD va cung cấp nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quản lý thu BHXH, mục tiêu quan trọng và phải luôn hướng tới là mục tiêu công bằng, công khai và dân chủ. Vì vậy, dé đạt được mục tiêu này phải xây dựng một cơ chế dựa trên một hệ thống tiêu thức phản ánh đầy đủ các nội dung cần quản lý. Hệ thống đó phải được xây dựng một cách công khai, dân chủ, được mọi người, mọi đơn vi tham gia thảo luận và thống nhất trước khi tổ chức thực hiện.
Hệ thống đó cũng phải được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh từng bước trong quá trình tổ chức, thực hiện dé phù hợp với thực tiễn hoạt động của từng đơn vị tổ chức, cá nhân và điều kiện, hoàn cảnh của đât nước 1. Tập trung, thong nhất, công bang và công khai Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH được tập trung, quản lý ở BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của người lao động, người sử dụng lao động đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch về số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo mức quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội.
Tính công bằng được thể hiện ở tỷ lệ đóng BHXH như nhau giữa các thành phần kinh tế, giữa các đối tượng tham gia. Hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần Quỹ ốm đau, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (quỹ ngắn hạn); quỹ hưu trí, tử tuất (quỹ dài hạn); quỹ BHXH tự nguyện; quỹ BHTN được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phan. Chỉ có 6 như vậy mới đảm bảo sự an toàn và cân đối lâu dài của quỹ BHXH. Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm tạo cơ sở điều chỉnh tỷ lệ đóng đối với từng quỹ, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn.
An toàn, hiệu quả Nguồn thu BHXH là sự đóng góp của các bên tham gia, và thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn.