Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm 3 CHƯƠNG: CHUONG I: Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH CHƯƠNG II: Thực trang quản lý thu BHXH bat buộc tại BHXH tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2017-2020. CHƯƠNG III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Hưng Yên. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS.Phan Anh Tuấn và các cô chú ở cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và làm chuyên đề thực tập. Trong quá trình làm chuyên đề thực tập, mặc dù em đã cố gắng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, rat mong được các thầy, cô giáo góp ý dé em hoàn thiện hơn về kiến thức và nâng cao von hiêu biét của ban thân mình.
Sinh viên Lê Thị Vân CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ THU BHXH 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA BHXH 1. Khái niệm BHXH Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phô biến ở tat cả các nước trên thé giới. Đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó mang ít tính chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân đạo và nhân văn cao cả.
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro nhằm bảo vệ NLD khi họ không may bị giảm hoặc mat khả năng lao động. - Từ giác độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NSDLD, NLD và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuôi lao động theo quy định của Pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết.
- Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của Pháp luật. - Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội. - Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLD khi họ bị mat hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mắt việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phan đảm bao an toàn đời sống của NLD và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất tại Khoản 1, Điều 3 Luật BHXH 2014, đó là: BHXH là sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cua NLD khi ho bị giảm hoặc mắt thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp quỹ BHXH.
Các loại hình và các chế độ BHXH Hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. + BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia theo quy định của Pháp luật. + BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLD tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để được hưởng chế độ BHXH. Ché độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thê và chỉ tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện dé thực hiện dé thực hiện BHXH đối với NLD.
Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn ban pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ. Theo Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, theo khuyến nghị của ILO, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: Chăm sóc y tế 9tƠ*mÐĐœà)ứØ Trợ cấp 6m đau Trợ cấp thất nghiệp Trợ cấp tuôi già Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Trợ cấp gia đình Trợ cấp sinh đẻ Trợ cấp khi tàn phế Tro cap cho người còn sông (trợ cap mat người nuôi dưỡng) 9 chế độ hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia thực hiện các chế độ khác nhau. Ở nước ta, Điều 4 Luật BHXH sé 58/2014/QH13 quy định rõ các chế độ BHXH, bao gồm: - BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: + Ôm đau + Thai sản + Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp + Hưu trí + Tử tuất - BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: + Hưu trí + Tử tuất Nội dung của các chế độ nêu trên được quy định thống nhất trong Luật BHXH.
Mỗi một chế độ được xây dựng đều căn cứ vào những cơ sở như: điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện sinh học, môi trường lao động,. Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu dưới đây: + Các chế độ được xây dựng theo pháp luật ở mỗi nước + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chỉ trả và thanh, quyết toán + Phan lớn các chế độ chi trả là chi trả định kỳ + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư an toàn và có hiệu quả thì mức chi trả sẽ cao và ôn định + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh được hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Vai trò của BHXH Thứ nhất, BHXH góp phần trợ giúp cho NLD không may gặp phải rủi ro (ốm đau, thất nghiệp, TNLD-BNN.) sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm trở lại.
Theo quy định của BHXH thì khi NLD có việc làm sẽ đóng góp một phan thu nhập, tiền lương vào quỹ dự phòng. Quỹ này sẽ hỗ trợ NLĐ khi ốm đau, tai nạn, khi không làm việc, khi sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi về già để duy trì và ồn định cuộc sống cua NLD và gia đình họ. Vì vậy, hoạt động BHXH đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLD đối với bản thân, với gia đình và đối với cộng đồng; mặt khác, còn thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội. NSDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLD.
4 Nhà nước đã tiến hành xây dựng các chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện, nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH. Thứ hai, BHXH góp phần 6n định cuộc sống của NLD khi hết tuôi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Theo quy định của Luật BHXH, NLD tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hăng tháng. Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập 6n định, bao đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
Hiện nay, cả nước đã có khoảng 3,1 triệu người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hang tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng. Trong nhiều năm qua, kể từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội; đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo được sự an tâm, tin tưởng của người vê hưu sau cả cuộc đời lao động. Thứ ba, BHXH góp phần ôn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm được sự bình đăng về vị thế xã hội của NLĐ, thúc đây sản xuất phát triển. Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra sự bình đăng của NLĐ về chính sách BHXH.
Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng và đã thu hút được hàng triệu NLD tham gia, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng cho NLD. NLD tham gia khi BHXH không may 6m đau sẽ được khám, chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả cho phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động; do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp gây ra. Ngoài ra, NLD còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi 6m đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật, nhằm nâng cao thé lực. Khi NLD mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới.
Với những quyền lợi của NLD khi tham gia BHXH đã góp phan thu hút nguồn lao động lớn vào nên sản xuất xã hội. Việc được tham gia BHXH khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau nay đã tạo ra cho NLD tâm lý ổn định, phan khởi, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện. Thứ tư, BHXH góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bang, hợp lý; đồng thời giảm chi cho NSNN và bao đảm ASXH bền vững. NLD có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cau của xã hội sẽ có thu nhập cao.
Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH. Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người có mức lương thấp hơn. Một bộ phận lao động khác không may gặp phải rủi ro trong cuộc sông như về sức khỏe, về hoàn cảnh gia đình.