Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG GIÁO ÁN DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐIỆN TỬ Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ứng dụng CNTT&TT trong dạy học ở nƣớc ta đã đƣợc đề cập từ những năm 90 của thế kỷ trƣớc và hiện đang tiếp tục đƣợc nghiên cứu, ứng dụng trong giảng dạy ở mọi cấp học của hệ thống giáo dục. Đã có những đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT&TT trong dạy học bƣớc đầu thu đƣợc những kết quả hết sức khả quan, thúc đẩy việc ứng dụng CNTT&TT vào dạy học góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục. Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu QL và ứng dụng CNTT&TT trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã đƣợc nhiều đơn vị quan tâm hơn.
Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT&TT và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề QL ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trƣờng GD&ĐT ở Việt Nam nhƣ: *Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo tại ĐHQG Hà Nội năm 2000. *Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT & TT 2/2003. *Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên đƣợc tổ chức tại Việt Nam. *Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” Trƣờng ĐHSP Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9- 10/12/2006 tại Trƣờng ĐHSP Hà Nội.
Các cuộc hội thảo trên đều tập trung bàn về vai trò của CNTT&TT trong giáo dục và các giải pháp đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT&TT trong DH. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề cập đến việc ứng dụng CNTT&TT trong dạy học và phát triển giáo án DHTCĐT tác giả Ngô Quang Sơn có viết : ''Trong hệ thống các loại hình thiết bị dạy học bộ môn hiện nay ở nước ta và các nước khác, giáo án DHTCĐT được coi là một loại hình trong 13 loại hình thiết bị dạy học bộ môn. Giáo án DHTCĐT vừa là giáo án vừa là một loại hình TBDH hiện đại - TBDH có ứng dụng CNTT&TT. Các giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cao đẳng cần nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng hiệu quả giáo án DHTCĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện'' [29].
Năm 2006, sinh viên Nguyễn Văn Dũng đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành QLGD với đề tài : “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Quỳnh Thắng A” Cũng năm 2006, học viên Hoàng Bình đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài: “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử ở Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học tỉnh Bắc Giang”. Những nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc QL thiết kế và sử dụng GAĐT, chủ yếu là cách thiết kế và sử dụng bài trình chiếu bằng Microsoft Office PowerPoint và Violet. Còn việc tích hợp giáo án DHTC vào môi trƣờng CNTT&TT để đem lại hiệu quả thì lại chƣa có tác giả nào nghiên cứu. Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề thấy rằng các hội thảo, các đề tài về ứng dụng CNTT&TT từ trƣớc đến nay, đều khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT&TT trong DH.
Thực tế việc đƣa CNTT&TT vào hoạt động của nhà trƣờng nói chung và hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Giáo viên còn nhiều lúng túng khi thiết kế và sử dụng giáo án DHTCĐT nhằm góp phần đổi mới PPDH. Cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề QL thiết kế và sử dụng giáo án DHTCĐT ở các trƣờng THPT. Việc nghiên cứu, tìm ra các biện pháp QL việc thiết kế và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng giáo án DHTCĐT nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học ở cấp THPT đang là vấn đề cần thiết và tập trung giải quyết.
Một số khái niệm 1. Quản lý * Khái niệm Khái niệm “quản lý” đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Có thể tiếp cận khái niệm về “quản lý” theo các nhà nghiên cứu sau: - Theo F. Ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.Fayol (1841-1925), kỹ sƣ ngƣời Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[15] và đƣợc thể hiện trên 14 nguyên tắc quản lý của ông.
Trong học thuyết quản lý của mình H. Fayol đƣa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ huy; Phối hợp; Kiểm tra và sau này đƣợc kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra. - Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý”: Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu QL một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang : “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.
14] Với những khái niệm trên ta thấy về bản chất quá trình QL có thể đƣợc biểu diễn dƣới dạng sơ đồ sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Bản chất quá trình quản lý Môi trƣờng bên ngoài Lập kế hoạch Tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo Nhƣ vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, QL có thể chia ra 4 nội dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức; lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch; Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Quản lý là sự tác động của chủ thể QL lên đối tƣợng bị QL nhằm đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng. Với khái niệm trên QL bao gồm các điều kiện sau: - Phải có một chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tƣợng bị QL phải tiếp nhận các tác động của chủ thể QL tạo ra. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tƣợng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Chủ thể có thể là một ngƣời, nhiều ngƣời, một thiết bị. Còn đối tƣợng có thể là con ngƣời (một hoặc nhiều ngƣời) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng).2: Mô hình quản lý Chủ thể quản lý Mục tiêu Đối tƣợng bị quản lý quản lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Cơ sở khoa học quản lý Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và quy mô hoạt động ra sao đều phải có sự QL và có ngƣời QL thì mới đạt đƣợc mục đích tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Vậy hoạt động QL (Management) là gì? Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đó là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể QL (ngƣời quản lý) đến khách thể QL (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức .[15] Nói cách khác hoạt động QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Ngƣời QL (Manager) là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì QL có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), Tổ chức (Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling). Kế hoạch hóa (Planning): Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tƣơng lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục đích đó. Tổ chức (Organizing): Khi ngƣời QL đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tƣởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Ngƣời QL phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức. Lãnh đạo (Chỉ đạo) - (Leading) : Sau khi kế hoạch đã đƣợc lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã đƣợc tuyển dụng thì phải có ngƣời đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là quá trình liên kết, liên hệ với ngƣời khác, hƣớng dẫn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động QL.
Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường * Quản lý giáo dục Cũng nhƣ khái niệm QL nói chung, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận của nhà nghiên cứu về QLGD. Có thể nêu một vài quan điểm nhƣ sau: - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp (bao hàm cả QL hệ giáo dục quốc gia, QL các phân hệ của nó, đặc biệt là QL trƣờng học).