Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tài chính trong trường đại học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tài chính ở trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND. Chương 3: Những giải pháp tăng cường quản lý hoạt động tài chính ở trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG TRƢỜNG ĐẠI HỌC Quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng và chi phối đến mọi hoạt động của nhà trường, của các cơ sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng. Thực tế hoạt động quản lý ở các trường cho thấy hầu hết các quyết định quản lý đều được đưa ra dựa trên kết quả khảo sát, nghiên cứu, phân tích và dự báo về tình hình hoạt động, mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo, tình hình tài chính hiện tại và tương lai.
Trong đó những đánh giá về mặt tài chính là hết sức cần thiết. Mặc dù có nhiều loại hình trường như: Trường công lập, trường bán công, trường dân lập, trường tư thục và trường có vốn đầu tư nước ngoài. với những hình thức pháp lý và bộ máy tổ chức khác nhau có những đặc điểm riêng về hoạt động, đối tượng đào tạo, loại hình đào tạo… nhưng nội dung các hoạt động tài chính, mục tiêu và chức năng của quản lý tài chính trong các nhà trường thì cơ bản giống nhau. Hoạt động tài chính của nhà trường khá phức tạp và thể hiện thông qua nhiều mối quan hệ kinh tế, giữa nhà trường với các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Tuy nhiên có thể xếp thành các nhóm cơ bản như sau: + Quan hệ tài chính giữa nhà trường với Nhà nước: Được thể hiện thông qua việc nhà trường thực hiện các nghĩa vụ tài chính với các cơ quan Nhà nước như các khoản phí, lệ phí, thuế (đối với các trường có tổ chức dịch vụ và sản xuất kinh doanh), các trường công lập được Nhà nước cấp ngân sách, mọi hoạt động phải theo chức năng và nhiệm vụ được giao. + Quan hệ tài chính giữa nhà trường với thị trường: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như quan hệ thanh toán mua bán vật tư, tài sản, hàng hoá dịch vụ.; quan hệ với ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong huy động vốn, cho vay, đầu tư vốn, tài sản; các tổ chức bảo hiểm… + Quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường: Thông qua việc thanh toán các khoản tiền lương, tiền công, khen thưởng, phân phối, sử dụng và trích lập các quỹ, chi trả học bổng, trợ cấp cho sinh viên, học viên… Đổi mới cơ chế tài chính là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 được Chính phủ phê duyệt tháng 12 năm 2001 với những định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp cụ thể để phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo, ngay trong những năm đầu của thế kỷ XXI Nhà nước đã rất nỗ lực và không ngừng đổi mới cơ chế quản lý tài chính nhằm liên tục nâng cao mức độ hoàn thiện của nó tạo ra những tiền đề thuận lợi cho công cuộc cải cách tài chính ở quy mô rộng với chất lượng cao. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Giáo dục Đại học Giáo dục ra đời và phát triển gắn cùng với sự ra đời và phát triển của loài người, ở đâu có con người thì ở đó có Giáo dục (tính phổ biến), khi nào còn loài người lúc đó còn Giáo dục. Giáo dục, là một hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của xã hội loài người.
Về bản chất, Giáo dục là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ. Về mục đích Giáo dục là sự định hướng của thế hệ trước cho sự phát triển của thế hệ sau. Về phương thức, Giáo dục là cơ hội giúp mỗi cá nhân đạt tới Hạnh phúc và là cơ sở đảm bảo cho sự kết thúc, tiếp nối và phát triển những thành quả văn hóa của xã hội loài người. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục ra đời theo nhu cầu của lịch sử xã hội, một mặt nó phản ánh trình độ phát triển của lịch sử, được quy định bởi trình độ phát triển của lịch sử, mặt khác nó tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử.
Ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội có một trang lịch sử Giáo dục. Trong xã hội có giai cấp, Giáo dục được sử dụng như một công cụ của giai cấp cầm quyền nhằm duy trì quyền lợi của mình thông qua mục đích, nội dung và phương pháp của Giáo dục. Mỗi Quốc gia đều có một truyền thống lịch sử, có nền văn hóa riêng, cho nên Giáo dục ở mỗi nước cũng có những nét độc đao, những sắc thái đặc trưng thể hiện trong mục đích, nội dung, phương pháp Giáo dục. Do vậy, Giáo dục có tính Dân tộc, nền Giáo dục hiện đại Việt Nam mang đặm bản sắc dân tộc VN.
Tóm lại: Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có Giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa Văn hóa Dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài ngươi không ngừng tiến lên [38, tr.Quản lý Khái niệm về quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Xét ở góc độ chung nhất: Quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu. Từ góc độ kinh tế: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, các cơ hội của tổ chức để đạt tới những mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Có tác giả lại quan niệm: Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội. Có thể hiểu: “Quản” là chăm sóc, giữ gìn, duy trì, ổn định; “Lý” là sửa sang sắp xếp, đổi mới, phát triển. Vì vậy: Quản lý thực chất là tạo nên sự ổn định và phát triển. Ổn định mà thiếu phát triển thì dẫn đến trì trệ, suy thoái.
Hệ phát triển mà thiếu ổn định dẫn đến lộn xộn, rối ren, nên: Quản lý = Ổn định + Phát triển. Trong bất kỳ một hệ thống hoạt động nào trong “quản” phải có “lý”, đồng thời trong “lý” phải có “quản”; “ổn định” đi tới “phát triển”; “phát triển” trong thế “ổn định”. “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”. Từ những khái niệm đã nêu trên khác nhau về cách diễn dạt, nhưng đều có điểm chung như sau: Quản lý là thuộc tính bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển.
Hoạt động của quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. Hoạt động của quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung.
Bản chất quản lý được thể hiện ở sơ đồ 1. Mô hình về quản lý - M (Mục tiêu của quản lý): xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý. - N (Nội dung của quản lý): Là những tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý. - P (Phương pháp quản lý): Là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý.
- C (Chủ thể quản lý): Có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - K (Khách thể quản lý): Là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người. Bất cứ một tổ chức nào dù tồn tại dưới hình thức nào, với mục đích gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều cần có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Hiện nay, quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Có thể khái quát: Quản lý là tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đề ra. Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn đấu đem hết năng lực trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý là một môn khoa học kết hợp nhiều môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có tính nhân văn. Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo linh hoạt và tinh tế để đạt tới mục đích đã định.Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Quản lý giáo dục dựa trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến giáo dục nhằm mục đích tăng cường phân cấp quản lý nhà trường cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với những quyền hạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tại chỗ.