CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 1. Trường đại học công lập trong hệ thống giáo dục đại học 1. Khái niệm trường đại học công lập Từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ thì hiện tượng giáo dục cũng manh nha xuất hiện. Hiện tượng giáo dục của buổi sơ khai trong xã hội nguyên thuỷ mang tính chất tự phát, diễn ra rất đơn giản theo hình thức bắt chước trực tiếp, nhằm truyền đạt những kinh nghiệm săn bắt, hái lýợm, cao hơn là những tập tục, nghi lễ trong cuộc sống bộ tộc, bộ lạc.
Đến khi xã hội loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, xã hội có giai cấp, giáo dục trở thành một công cụ quan trọng của giai cấp thống trị, đào tạo họ trở thành những người có năng lực duy trì nền thống trị, giáo dục tuyên truyền tính chất quy thuận, phục tùng đối với tầng lớp, giai cấp bị trị và trong xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn lâm chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị đó là GDĐH. Lịch sử GDĐH thế giới đã hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ, tiêu biểu là GDĐH phương Đông và phương Tây. Nền GDĐH Việt Nam được hình thành với việc thành lập Quốc Tử Giám tại kinh thành Thăng Long vào năm 1076, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam theo mô hình phương Đông. GDĐH theo mô hình phương Tây được du nhập vào Việt Nam từ Pháp rất muộn với việc thành lập trường Cao 15 đẳng Y khoa năm 1904 và tổ chức hợp nhất một số trường thành Viện Đại học Đông Dương năm 1943 tại Hà Nội.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Việt Nam được chia thành hai miền ở phía bắc và nam vĩ tuyến 17. Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc hệ thống GDĐH phát triển mạnh, nhiều trường đại học được thành lập, phần lớn là các trường đơn lĩnh vực hoặc đơn ngành theo mô hình của Liên Xô, ở miền Nam hệ thống GDĐH cũng phát triển nhanh, một bộ phận tiếp tục chịu ảnh hưởng của mô hình Pháp (tiêu biểu là Viện Đại học Sài Gòn), bộ phận khác chịu ảnh hưởng của mô hình Mỹ (tiêu biểu là Viện Đại học Cần Thơ và một số trường Đại học cộng đồng). Tháng 04/1975 đất nước được thống nhất, GDĐH được xây dựng theo kiểu miền Bắc, hệ thống GDĐH theo mô hình Liên Xô được củng cố và phát triển. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đối với GDĐH biểu hiện rõ ở các yếu tố: Sinh viên được tuyển vào các trường đại học thường với số lượng không lớn bằng một quy trình chặt chẽ, họ không phải đóng học phí và được bao cấp một chi phí đủ sống ở mức độ thấp, sau khi tốt nghiệp họ được phân công vào các vị trí trong bộ máy nhà nước hoặc các cơ sở kinh tế quốc doanh.
Các trường đại học được Nhà nước cấp chỉ tiêu tuyển sinh, kinh phí đào tạo và quy định chương trình đào tạo. Không có các trường ngoài công lập, các trường tư đã tồn tại ở miền Nam trước năm 1975 bị giải thể. Hệ thống GDĐH thống nhất theo mô hình Liên Xô này tồn tại cho đến cuối năm 1986, bộc lộ nhiều nhược điểm gây trì trệ cho sự phát triển. Từ đầu năm 1987, Chính phủ Việt Nam quyết định từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu thời kỳ đổi mới.
Ngày nay, GDĐH hiện đại của Việt Nam đang phát triển theo hướng tự chủ đại học dựa trên kinh nghiệm phát triển GDĐH của một số nước có nền giáo dục tiên tiến, hàng đầu trên thế giới. Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết 16 chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống, không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh. Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng về GDĐH như sau: - Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn: Theo quan điểm này, GDĐH là quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động. - Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu: Theo quan điểm này, GDĐH trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng để trở thành những nhà nghiên cứu.
- Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả: Theo quan điểm này, giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục, các cơ sở GDĐH chú trọng quản lý hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy. - Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học: Theo cách tiếp cận này, GDĐH được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, GDĐH đào tạo trình độ đại học và sau đại học với các cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân: Trường đại học, Học viện, Đại học vùng, Đại học quốc gia, Viện NCKH được phép đào tạo trình độ tiến sĩ. Trường đại học: Là cơ sở GDĐH đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học và nghiên cứu, triển khai các hoạt động KHCN.
Trường đại học công lập: Là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng tới mục tiêu vì cộng đồng, thực hiện chức năng đào tạo đại học, sau đại học, NCKH và CGCN. 17 Như vậy, quản lý tài chính tại trường ĐHCL bên cạnh phục vụ mục tiêu kinh tế còn phục vụ mục tiêu xã hội, nếu các trường đại học dân lập được tự chủ về nguồn thu, chi và mục tiêu lợi nhuận thì các trường ĐHCL phải cân đối giữa nhiệm vụ kinh tế và nhiệm vụ xã hội. Điều này cũng đặt ra một giới hạn nhất định đối với thiết lập cơ chế quản lý tài chính tại các trường ĐHCL. Đặc điểm của trường đại học công lập 1.
Đặc điểm của trường đại học Một là, sản phẩm của trường đại học là đào tạo ra những con người có tri thức và năng lực lao động tương ứng trình độ đào tạo đại học và sau đại học. Trường đại học là chủ thể của xã hội nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra các sản phẩm vật chất. Tuy nhiên, theo phân công lao động, trường đại đại học là nơi duy nhất có đủ điều kiện và đủ khả năng cung cấp nguồn nhân có trình độ chuyên môn cao cho xã hội, làm tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc trang bị cho họ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để tăng hiệu quả các hoạt động KT-XH. Hai là, quá trình hoạt động sản xuất sản phẩm dịch vụ của trường đại học xét về bản chất là quá trình sản xuất tiêu hao lao động sống và lao động vật hóa để tạo ra sản phẩm dịch vụ.
Trường đại học tạo ra sản phẩm dịch vụ trong quá trình tương tác giữa người dạy và người học. Người thầy tác động trực tiếp đến người học bằng cách truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng. Quá trình này buộc người thầy phải tiêu hao sức lao động của mình và sử dụng tiêu hao các công cụ khác phục vụ giảng dạy, song song với quá trình đó, người học được tiếp nhận các “dịch vụ” mà người thầy đã cung cấp. Như vậy, quá trình thực hiện dịch vụ để tạo ra sản phẩm khác với quá trình sản xuất những hàng hóa và dịch vụ thông thường, không chỉ có máy móc tốt, nguyên nhiên vật liệu tốt, quy trình sản xuất tốt là tạo ra sản phẩm tốt, quá trình để tạo 18 ra những sản phẩm còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức của người học và kiến thức truyền đạt của người thầy.
Ngoài ra, các yếu tố về trình độ phát triển kinh tế, KHCN, văn hóa xã hội là các yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của trường đại học qua nhu cầu sử dụng sinh viên được đào tạo, sử dụng các kết quả nghiên cứu của trường đại học, phát triển và bảo tồn các thành tựu văn hóa. Hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ của trường đại học đó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nội lực của bản thân trường đại học. Chất lượng, năng lực của đội ngũ giảng viên, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị. là yếu tố quyết định đến chất lượng quá trình giảng dạy cũng như chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho xã hội.
Đặc điểm của trường đại học công lập Ngoài các đặc điểm cơ bản của trường đại học, trường ĐHCL có các đặc điểm riêng sau: Một là, bộ máy quản lý, điều hành các hoạt động của trường ĐHCL được tổ chức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường nhưng phải tuân thủ quy định pháp luật. Bộ máy của trường ĐHCL bao gồm Hội đồng trường, Ban Giám hiệu, các phòng chức năng, khoa/trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành, bộ môn. Hoạt động của Hội đồng trường tại các trường ĐHCL khác với Hội đồng quản trị trong các trường đại học ngoài công lập. Người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của trường ĐHCL là công chức, viên chức và chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức.
Hai là, chi phí cho việc cung cấp dịch vụ GDĐH được người học trả thông qua học phí và một phần NSNN cấp thông qua đầu tư xây dựng cơ bản và chi thường xuyên. Các trường ĐHCL thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ, mặc dù không được nhận chi thường xuyên từ NSNN nhưng vẫn được nhận 19 đầu tư xây dựng cơ bản, hỗ trợ NCKH và cơ sở vật chất hiện có của Nhà nước. Đối với các trường ngoài công lập, dịch vụ GDĐH mang tính chất của dịch vụ tư thuần túy khi toàn bộ chi phí do chủ đầu tư bỏ ra và toàn bộ khoản thu có được từ người học. Nhà đầu tư phải tính toán lợi ích kinh tế để quyết định có hay không cung cấp dịch vụ GDĐH.