Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Sỹ Tá, chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số: 62 34 82 01) tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Chi Mai và GS. Đinh Văn Tiến. Công trình được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2018 tại Hà Nội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 và Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ (ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020), cải cách tài chính công là một trong sáu trọng tâm then chốt. Nhằm chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp công lập, Chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP. Mục tiêu cốt lõi là xóa bỏ cơ chế bao cấp, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL).

Hệ thống nhà khách thuộc các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) giữ vai trò phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ chính trị, đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; đồng thời tận dụng cơ sở vật chất sẵn có để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn, nghỉ, hội nghị cho các đối tượng xã hội. Tuy nhiên, khi chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính, hệ thống này bộc lộ nhiều khó khăn:

  1. Tư duy bao cấp, tâm lý "tiền chùa" vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, viên chức dẫn đến thiếu ý thức tiết kiệm;
  2. Tỷ trọng nguồn thu dịch vụ chưa cao; các quy định về vay vốn tín dụng, huy động vốn viên chức hoặc chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể;
  3. Năng lực bộ máy quản lý tài chính chưa đáp ứng yêu cầu hạch toán kinh tế; quy định trích lập 40% nguồn thu để cải cách tiền lương làm giảm tính linh hoạt trong sử dụng vốn;
  4. Nhà khách vẫn phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ chính trị do cơ quan cấp trên giao nhưng không được bảo đảm kinh phí kèm theo.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Trong khi các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào cơ chế tài chính ĐVSNCL nói chung hoặc trong các ngành giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thì chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ chế quản lý tài chính đối với loại hình đơn vị sự nghiệp đặc thù mang tính lưỡng dụng như hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là xây dựng hệ thống giải pháp có luận cứ khoa học nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương theo hướng đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSNCL nói chung và hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN nói riêng.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của hệ thống nhà khách thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2004–2015, chỉ rõ các ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của những hạn chế.
  3. Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong giai đoạn tiếp theo.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Đâu là cơ sở lý luận làm căn cứ cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong những năm qua diễn ra như thế nào, có những hạn chế và nguyên nhân gì?
  • Câu hỏi 3: Đâu là những giải pháp cơ bản để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong giai đoạn tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống các nhà khách công vụ thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương.
  • Khách thể nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống nhà khách thuộc các cơ quan QLNN (bao gồm nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).
  • Phạm vi nội dung: Cơ sở khoa học, quy định pháp lý, các công cụ và quy trình tạo lập, phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính tại các nhà khách công vụ.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá số liệu thực trạng giai đoạn 2004–2015 và xây dựng giải pháp, định hướng với tầm nhìn đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm chủ đề trong và ngoài nước:

Các nghiên cứu về quản lý tài chính và tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung

  • Phạm Chí Thanh: Luận án tiến sĩ kinh tế "Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam" (chuyên ngành Kinh tế chính trị). Tác giả tiếp cận tài chính ĐVSNCL theo các mối quan hệ với Nhà nước, nhà cung cấp đầu vào, người thụ hưởng dịch vụ và người lao động; luận giải bản chất việc ngân sách nhà nước (NSNN) cấp kinh phí thực chất là Nhà nước mua dịch vụ của ĐVSNCL; từ đó khẳng định cần xóa bỏ bao cấp và chuyển sang quản lý chi ngân sách theo kết quả hoạt động.
  • TS. Lưu Thái Bình (2015): Đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công, nâng cao chất lượng dịch vụ công đến năm 2020" (Học viện Chính trị khu vực I), đánh giá tác động của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trong việc tạo quyền chủ động quản lý chi tiêu, thúc đẩy đa dạng hóa dịch vụ công.
  • Mai Thị Thu và Nhóm nghiên cứu (2015): Bài viết "Đổi mới cơ chế tài chính đối với dịch vụ sự nghiệp công" (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính), phân tích bất cập trong phân bổ nguồn lực và đề xuất giải pháp huy động vốn xã hội hóa.
  • Vương Đình Huệ (2012): Bài viết "Đổi mới cơ chế tài chính trong cung cấp dịch vụ công hướng tới mục tiêu chất lượng, công bằng và hiệu quả" trên Tạp chí Cộng sản, nhấn mạnh yêu cầu cải cách tổ chức sự nghiệp công lập gắn với bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ.
  • PGS. Trần Văn Giao (chủ nhiệm đề tài): "Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính – sự nghiệp hiện nay ở Việt Nam", hệ thống hóa lý luận tài sản công và thực trạng quản lý từ năm 1995.
  • Cục Công sản - Bộ Tài chính (2013): Đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập", phân tích các phương thức thuê, cho thuê tài sản, liên doanh liên kết để giảm sức ép chi từ NSNN.
  • Các bài viết chuyên khảo khác: Yên Thanh (2013) về sắp xếp ĐVSNCL; Tấn Lực (2012) về đổi mới hoạt động ĐVSNCL; Đức Minh (2012) khảo sát thực tế tại tỉnh Phú Thọ (136/147 đơn vị được giao quyền tự chủ, đạt 93%); Thúy Hồng (2012) về triển khai Nghị quyết số 40/NQ-CP và Thông báo Kết luận số 37-TB/TW của Bộ Chính trị; Xuân Vương (2013) về thực hiện tự chủ biên chế và kinh phí ở địa phương.

Các công trình nghiên cứu tự chủ tài chính theo từng lĩnh vực chuyên ngành

  • Lĩnh vực giáo dục đại học:
    • Trần Đức Cân (2012): Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam" (Đại học Kinh tế Quốc dân), xác lập 6 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính (quy mô vốn, cơ cấu vốn, cơ cấu chi phí...).
    • TS. Nguyễn Kim Dung và PGS. Trần Quốc Toản (2010): Nghiên cứu về quản lý nhà nước và mức độ tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học qua khảo sát thực tế.
    • Trường Đại học Tài chính – Marketing (2014): Đề tài cấp Bộ về chính sách tài chính thúc đẩy xã hội hóa giáo dục đại học giai đoạn 2014–2020.
    • Hayden và Thiep (2006, 2007): Các tác phẩm "A 2020 vision for Vietnam" và "Institutional autonomy for HE in Vietnam", phân tích rào cản từ cơ chế bộ chủ quản và sự thiếu hụt nhận thức về quyền tự chủ đại học tại Việt Nam.
  • Lĩnh vực khoa học và công nghệ:
    • Vụ Tài chính Hành chính - Sự nghiệp, Bộ Tài chính: Đề tài khoa học cấp Bộ "Đổi mới cơ chế quản lý tài chính khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020".
    • Đề án chuyển đổi Viện Kỹ thuật biển (2009): Chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP (căn cứ Quyết định số 594/QĐ-TTg, Quyết định số 55/2008/QĐ-BNN và Quyết định số 2863/QĐ-BNN-TCCB).
    • PGS. Lưu Đức Tuyên (2016): Đánh giá 10 năm thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP và phân tích điểm mới của Nghị định số 54/2016/NĐ-CP trên Tạp chí Tài chính.
    • TS. Bùi Tiến Dũng (2014) và Đoàn Trọng Đức (2014): Phân tích cơ chế tài chính và phương thức khoán chi tại các tổ chức khoa học công nghệ (khảo sát thực tế tại tỉnh Kon Tum với 02 đơn vị trực thuộc).
  • Lĩnh vực y tế công lập:
    • Bộ Y tế (2008): Đề án "Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập", đánh giá tác động của Nghị định 43/2006/NĐ-CP đến chính sách viện phí, bảo hiểm y tế và tiền lương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình nêu trên đã giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính tại các ĐVSNCL đơn ngành. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN – một mô hình có tính chất hỗn hợp giữa phục vụ công vụ chính trị nội bộ và hoạt động dịch vụ khách hàng trên thị trường. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm xác lập căn cứ lý luận và giải pháp thực tiễn áp dụng riêng cho hệ thống nhà khách nhà nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên các khái niệm và khung phân tích quản lý hành chính công và tài chính công:

  1. Đơn vị sự nghiệp công lập: Là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy nhằm cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, hỗ trợ QLNN và tham gia phân phối lại thu nhập xã hội.
  2. Phân loại dịch vụ công: Luận án phân định 3 loại dịch vụ công:
    • Dịch vụ hành chính công: Gắn liền với thẩm quyền quyền lực nhà nước (cấp phép, đăng ký, công chứng, hộ tịch...).
    • Dịch vụ sự nghiệp: Cung cấp phúc lợi thiết yếu về giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học...
    • Dịch vụ công ích: Cung cấp hạ tầng, hàng hóa vật chất đô thị (vệ sinh môi trường, thoát nước, chiếu sáng...).
  3. Nhà khách thuộc cơ quan QLNN: Là cơ sở kinh doanh dịch vụ phục vụ lưu trú, ăn uống, hội họp; vừa đảm nhận phục vụ khách công vụ chính thức không thu tiền theo kế hoạch của cơ quan chủ quản, vừa cung ứng dịch vụ có thu cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài.
  4. Cơ chế quản lý tài chính: Là hệ thống các nguyên tắc, công cụ, hình thức và phương pháp do Nhà nước ban hành nhằm quản lý các hoạt động tài chính (lập kế hoạch, tạo lập, phân phối và kiểm tra việc sử dụng các quỹ tiền tệ) trong ĐVSNCL.
  5. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính: Là việc trao quyền tự quyết cho đơn vị trong việc khai thác nguồn thu, quyết định các khoản chi thông qua Quy chế chi tiêu nội bộ, phân phối kết quả chênh lệch thu chi gắn liền với trách nhiệm giải trình trước Nhà nước và pháp luật.

Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập và cấp dự toán

Luận án tổng hợp các tiêu chí phân loại ĐVSNCL làm căn cứ xác định vị trí pháp lý của nhà khách:

Tiêu chí phân loại Các nhóm đơn vị cụ thể
Theo lĩnh vực hoạt động Giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học - công nghệ, sự nghiệp kinh tế...
Theo cơ quan quản lý Thuộc Bộ/ngành Trung ương; thuộc ĐVSNCL cấp trên; thuộc tổ chức chính trị - xã hội; thuộc doanh nghiệp nhà nước.
Theo cấp hành chính Cấp Trung ương (Chính phủ, Bộ, ngành); Cấp Tỉnh (UBND tỉnh/Sở); Cấp Huyện (UBND huyện).
Theo cấp dự toán ngân sách - Đơn vị dự toán Cấp I: Nhận dự toán trực tiếp từ NSNN (Chính phủ, UBND giao), phân bổ cho cấp dưới.
- Đơn vị dự toán Cấp II: Nhận dự toán từ Cấp I, phân bổ cho Cấp III trực thuộc.
- Đơn vị dự toán Cấp III: Đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, quyết toán với cấp trên.
Theo mức độ tự chủ (Nghị định 16/2015/NĐ-CP) 1. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
2. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên.
3. Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên.
4. Đơn vị do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp tiếp cận:

  • Phương pháp luận: Vận dụng phép biện chứng duy vật (quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể, phát triển) và quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới cơ chế tài chính ĐVSNCL.
  • Phương pháp khảo sát thực tế và phân tích đánh giá: Thu thập dữ liệu thực tế tại các nhà khách Trung ương và địa phương, nhận diện thực trạng quản lý tài chính và các vướng mắc phát sinh.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, so sánh, khái quát hóa các mô hình quản lý trong nước và bài học kinh nghiệm quốc tế (kinh nghiệm quản lý theo kết quả đầu ra; mô hình nhà khách chính phủ tại Nga, Trung Quốc).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và tổng hợp chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2004–2015 của hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN.
  • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà quản lý, nhà khoa học và lãnh đạo các nhà khách để hoàn thiện hệ thống luận cứ giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính ĐVSNCL, quản lý tài sản công, tự chủ tài chính trong các ngành giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ. Trên cơ sở tổng thuật các ấn phẩm trong nước và quốc tế, tác giả chỉ ra các khoảng trống lý luận và thực tiễn, đồng thời xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu làm định hướng cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam

Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý luận cốt lõi:

  • Khái niệm và đặc điểm ĐVSNCL: Làm rõ sự khác biệt giữa "sự nghiệp" và "dịch vụ", xác định 5 đặc trưng bản chất của ĐVSNCL (do Nhà nước thành lập; cung cấp dịch vụ thiết yếu; nguồn kinh phí từ ngân sách kết hợp thu sự nghiệp; tham gia phân phối lại; không thực hiện chức năng QLNN; có tư cách pháp nhân).
  • Nhận diện hệ thống nhà khách: Khẳng định nhà khách thuộc cơ quan QLNN là loại hình ĐVSNCL đặc thù. Hệ thống này bao gồm:
    1. Nhà khách do Văn phòng Chính phủ quản lý: Nhà khách 37 Hùng Vương, Nhà khách Tao Đàn, Nhà khách Dinh Độc Lập...
    2. Nhà khách do các Bộ quản lý: Nhà khách Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà khách Bộ Giao thông Vận tải, Nhà khách Bộ Quốc phòng; cùng hệ thống nhà khách chuyên ngành tại các địa phương (Nhà khách Bộ Xây dựng tại Vũng Tàu, Nhà khách Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Cửa Lò, Nhà khách Bộ Ngoại giao tại Sầm Sơn...).
    3. Nhà khách do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý: Nhà khách tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bến Tre...
  • Đặc trưng hoạt động của nhà khách công vụ:
    • Thực hiện chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị, đón tiếp đại biểu Quốc hội, các hội nghị Trung ương, kỳ họp HĐND, UBND các cấp;
    • Hoạt động bằng hai nguồn tài chính: Ngân sách nhà nước cấp và doanh thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống;
    • Cơ sở vật chất, tài sản do NSNN đầu tư ban đầu từ thời kỳ bao cấp, thường tọa lạc tại các vị trí trung tâm hành chính, đô thị lớn;
    • Nhân sự ban đầu có nguồn gốc từ công chức, viên chức chuyển sang.
  • Tiến trình đổi mới thể chế tài chính: Phân tích sự chuyển dịch từ cơ chế cấp phát dự toán theo mục lục ngân sách sang cơ chế khoán kinh phí (Nghị định 10/2002/NĐ-CP), mở rộng tự chủ toàn diện (Nghị định 43/2006/NĐ-CP) và phân loại theo khả năng bảo đảm chi phí (Nghị định 16/2015/NĐ-CP).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tổng thuật kinh nghiệm quản lý nhà khách chính phủ của một số quốc gia (Nga, Trung Quốc, các nước Phật giáo) và việc áp dụng quản trị theo kết quả đầu ra trong khu vực công.

Chương 3: Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam

Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng giai đoạn 2004–2015:

  • Tình hình tổ chức và hoạt động: Đánh giá mô hình quản trị, chức năng nhiệm vụ và kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ của các nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và UBND cấp tỉnh.
  • Các khâu quản lý tài chính: Phân tích quy trình lập dự toán, chấp hành dự toán, công tác kế toán và quyết toán thu chi. Việc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ đã giúp nhiều đơn vị tiết kiệm chi phí, bổ sung thu nhập cho người lao động.
  • Những tồn tại, hạn chế:
    • Nguồn thu sự nghiệp tăng nhưng tốc độ chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí cơ sở vật chất;
    • Việc tiếp cận vốn vay tín dụng, vốn huy động viên chức theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP chưa thực hiện được do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể từ cơ quan quản lý;
    • Quy định trích 40% số tăng thu để thực hiện cải cách tiền lương gây áp lực lớn, làm hạn chế nguồn vốn tái đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất;
    • Bộ máy kế toán, tài chính tại nhiều nhà khách quen nếp quản lý hành chính bao cấp, thiếu kỹ năng hạch toán kinh doanh dịch vụ du lịch - khách sạn;
    • Phát sinh xung đột giữa nhiệm vụ phục vụ chính trị đột xuất (không kèm ngân sách) và kế hoạch kinh doanh dịch vụ thu tiền.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự chậm đổi mới nhận thức của cấp ủy, ban giám đốc và cán bộ nhân viên nhà khách; nguyên nhân khách quan do khung khổ pháp lý về tự chủ tài chính đối với ĐVSNCL kinh doanh dịch vụ công vụ còn chồng chéo, thiếu quy định đặc thù.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam

Chương 4 xác định mục tiêu đổi mới đến năm 2025 là chuyển đổi mạnh mẽ các nhà khách đủ điều kiện sang cơ chế tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên và chi đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ công vụ. Hệ thống 9 nhóm giải pháp được đề xuất gồm:

  1. Hoàn thiện khung pháp luật: Ban hành các hướng dẫn cơ chế tài chính đặc thù cho nhà khách công vụ; cụ thể hóa quy định vay vốn, huy động vốn và lộ trình chuyển đổi mô hình sang doanh nghiệp.
  2. Đổi mới nhận thức về tự chủ tài chính: Xóa bỏ tâm lý ỷ lại bao cấp, quán triệt nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính trong toàn thể cán bộ, nhân viên.
  3. Đổi mới phương thức quản lý, tách bạch vai trò: Phân định rõ chức năng QLNN của cơ quan chủ quản và quyền tự chủ hoạt động của nhà khách với tư cách đơn vị cung cấp dịch vụ; phân định rõ quyền của chủ sở hữu nhà nước.
  4. Hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ: Chuẩn hóa quy trình xây dựng quy chế, định mức chi tiêu, định mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu và cơ chế trả lương gắn với hiệu quả công việc.
  5. Đa dạng hóa các nguồn tài chính: Mở rộng dịch vụ hội nghị, ẩm thực, lưu trú cho khách xã hội ngoài thời gian phục vụ công vụ; thực hiện các hình thức liên doanh, liên kết theo đúng quy định.
  6. Hoàn thiện quản lý tài chính, kế toán và tài sản: Thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí, trích khấu hao tài sản cố định; quản lý chặt chẽ đất đai, nhà xưởng được Nhà nước giao.
  7. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Thiết lập hệ thống kiểm soát tài chính định kỳ, giám sát công khai thu chi và phân phối quỹ.
  8. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý tài chính: Kiện toàn phòng tài vụ, bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán doanh nghiệp và kỹ năng phân tích tài chính cho đội ngũ quản lý.
  9. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin: Tin học hóa toàn diện công tác quản lý phòng, kế toán thu chi, quản lý kho bãi và báo cáo tài chính.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án bổ sung và làm sâu sắc thêm lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong ĐVSNCL, đặc biệt đối với loại hình đơn vị sự nghiệp phục vụ công vụ kết hợp sản xuất kinh doanh dịch vụ (nhà khách thuộc cơ quan QLNN).
  • Luận giải cơ sở khoa học của việc phân cấp, trao quyền tự chủ tài chính, làm rõ mối quan hệ giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với tài sản công tại hệ thống nhà khách.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn diện về tổ chức hoạt động và thực trạng quản lý tài chính của hệ thống nhà khách Trung ương (Văn phòng Chính phủ, các Bộ) và địa phương (UBND cấp tỉnh) giai đoạn 2004–2015.
  • Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng thực tiễn cao, giúp các cơ quan QLNN hoàn thiện thể chế tài chính và giúp các nhà khách xây dựng lộ trình tự chủ tài chính bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích chuỗi dữ liệu thực trạng giai đoạn 2004–2015, chủ yếu dựa trên khung khổ thi hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và bước đầu tiếp cận các định hướng của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn việc triển khai Nghị định 16/2015/NĐ-CP và các văn bản quy định chi tiết cho từng khối ngành trong giai đoạn sau năm 2018; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế cổ phần hóa hoặc chuyển đổi mô hình quản trị nhà khách thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý chủ quản: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, các Bộ ngành và UBND các tỉnh/thành phố trong việc hoàn thiện thể chế quản lý tài chính đối với ĐVSNCL và ban hành định mức phục vụ công vụ.
  • Ban Giám đốc và cán bộ tài chính kế toán các nhà khách: Cung cấp phương pháp xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, phương án quản lý tài sản và đa dạng hóa nguồn thu.
  • Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý hành chính công, Quản trị công và Tài chính công sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam gồm những nhóm đối tượng nào?

Hệ thống nhà khách gồm 3 nhóm chính:

  • Nhà khách do Văn phòng Chính phủ quản lý (ví dụ: Nhà khách 37 Hùng Vương, Nhà khách Tao Đàn, Nhà khách Dinh Độc Lập);
  • Nhà khách do các Bộ quản lý (ví dụ: Nhà khách Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà khách Bộ Giao thông Vận tải, Nhà khách Bộ Quốc phòng, cùng các nhà khách chuyên ngành tại các khu du lịch như Vũng Tàu, Cửa Lò, Sầm Sơn);
  • Nhà khách do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý (ví dụ: Nhà khách các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bến Tre...).

2. Điểm đặc thù cơ bản nhất về cơ chế tài chính của hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN là gì?

Đó là tính chất hoạt động lưỡng dụng: Đơn vị vừa phải thực hiện nhiệm vụ chính trị - phục vụ công vụ (tổ chức ăn, nghỉ, hội họp cho các đại biểu dự hội nghị của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND mà không thu tiền trực tiếp từ người thụ hưởng); vừa phải hạch toán kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống trên thị trường để bù đắp chi phí và tăng nguồn thu.

3. Những khó khăn lớn nhất khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các nhà khách giai đoạn 2004–2015 là gì?

Các khó khăn chính gồm: Tư duy bao cấp còn tồn tại; nguồn thu dịch vụ chưa cao; chưa có cơ chế rõ ràng để vay vốn tín dụng hoặc chuyển đổi sang doanh nghiệp; quy định giữ lại 40% nguồn tăng thu để thực hiện cải cách tiền lương làm giảm nguồn lực tái đầu tư; bộ máy quản lý tài chính quen nếp hành chính cũ; thường xuyên tiếp nhận nhiệm vụ chính trị đột xuất nhưng không được cấp bù kinh phí.

4. Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại thành những nhóm tự chủ nào?

Nghị định 16/2015/NĐ-CP phân chia ĐVSNCL thành 4 nhóm theo mức độ tự chủ tài chính:

  1. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
  2. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
  3. Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
  4. Đơn vị do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư.

5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại nhà khách?

Luận án đề xuất 9 nhóm giải pháp: Hoàn thiện khung pháp luật; đổi mới nhận thức tự chủ; tách bạch quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu; hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ; đa dạng hóa nguồn tài chính; nâng cao chất lượng quản lý kế toán và tài sản; tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nội bộ; kiện toàn bộ máy và nhân sự tài chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sỹ Tá đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2004–2015, công trình đã làm rõ các kết quả đạt được cũng như những rào cản về thể chế, tư duy quản lý và nguồn lực tài chính tại các đơn vị này. Hệ thống 9 nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để các cơ quan quản lý và các nhà khách thực hiện lộ trình tự chủ tài chính bền vững đến năm 2025.