Luận văn quản lý cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Bộ Xây dựng

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng Bộ Xây dựng.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng

Quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là công cụ pháp lý then chốt. Công tác này kiểm soát năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia xây dựng. Luật Xây dựng năm 2014 đã thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ và chặt chẽ hơn. Quy định phân cấp rõ ràng theo từng hạng chứng chỉ từ hạng I đến hạng III. Mỗi cá nhân phải chứng minh văn bằng chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn tương ứng. Cục Quản lý hoạt động xây dựng thuộc Bộ Xây dựng giữ vai trò đầu mối chỉ đạo toàn diện. Đơn vị thực hiện tiếp nhận, thẩm định và cấp chứng chỉ cho các đối tượng thuộc thẩm quyền trung ương. Quản lý minh bạch giúp chuẩn hóa đội ngũ kỹ sư, kiến trúc sư và giám sát viên. Việc cấp phép chuẩn xác ngăn ngừa sự cố kỹ thuật và giảm thiểu rủi ro đầu tư. Môi trường kinh doanh xây dựng nhờ đó trở nên cạnh tranh lành mạnh và bền vững hơn.

1.1. Cơ sở pháp lý về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo nền móng cho công tác cấp chứng chỉ. Luật Xây dựng năm 2014 quy định chi tiết quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan chuyên môn. Các Nghị định và Thông tư hướng dẫn cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với từng lĩnh vực hành nghề. Cá nhân phải đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo đại học hoặc cao đẳng phù hợp. Thời gian tham gia các dự án thực tế được thẩm định nghiêm ngặt qua hồ sơ minh chứng. Hồ sơ đăng ký đòi hỏi văn bằng gốc và hợp đồng lao động liên quan. Quy chuẩn pháp lý bảo đảm tính thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia. Tính tuân thủ nghiêm ngặt bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người hành nghề.

1.2. Vị trí và chức năng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng

Cục Quản lý hoạt động xây dựng trực thuộc Bộ Xây dựng. Cục thực hiện chức năng tham mưu và giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về xây dựng. Trọng tâm công tác là thẩm định và cấp chứng chỉ hành nghề hạng I trên toàn quốc. Đơn vị trực tiếp quản lý cơ sở dữ liệu sát hạch chuyên môn của các hội nghề nghiệp. Cục xây dựng ngân hàng câu hỏi sát hạch chuẩn hóa và giám sát kỳ thi độc lập. Đội ngũ cán bộ chuyên trách kiểm tra tính xác thực của từng hồ sơ đề nghị cấp phép. Cơ quan này đóng vai trò cầu nối giữa chính sách vĩ mô và thực tiễn thị trường. Bộ máy quản lý tập trung nâng cao tính minh bạch và chuyên nghiệp.

II. Đánh giá quản lý cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng

Thực tiễn quản lý chứng chỉ hành nghề xây dựng đang đối mặt nhiều thách thức gay gắt. Tình trạng làm giả chứng chỉ và gian lận hồ sơ vẫn diễn biến phức tạp. Việc mua bán giấy xác nhận kinh nghiệm nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều địa phương. Nhiều cá nhân sử dụng chứng chỉ sai mục đích để hợp thức hóa hồ sơ dự thầu. Những sai phạm này đe dọa nghiêm trọng chất lượng và an toàn của các công trình. Cục Quản lý hoạt động xây dựng gặp áp lực lớn do khối lượng hồ sơ tăng nhanh. Công tác hậu kiểm và đối soát thông tin liên thông chưa đạt hiệu quả tối ưu. Cơ chế phối hợp giữa Bộ Xây dựng và các Sở Xây dựng địa phương còn nhiều bất cập. Phần mềm xử lý hồ sơ trực tuyến đôi khi quá tải và phát sinh lỗi kỹ thuật. Quy trình xác minh bằng cấp tại các cơ sở đào tạo mất nhiều thời gian chờ đợi. Năng lực cán bộ tiếp nhận chưa đồng đều khiến thời gian xử lý bị kéo dài. Sự thiếu hụt nhân sự giám sát làm giảm hiệu lực thanh tra hiện trường.

2.1. Hạn chế trong kiểm soát hồ sơ và tình trạng trục lợi

Tình trạng gian dối trong kê khai kinh nghiệm diễn ra phổ biến. Nhiều tổ chức trung gian thực hiện dịch vụ làm đẹp hồ sơ trái quy định. Việc xác minh tính chân thực của văn bằng đại học gặp nhiều trở ngại khách quan. Các cơ sở đào tạo chưa số hóa toàn diện dữ liệu cấp bằng tốt nghiệp. Hiện tượng cho mượn hoặc thuê chứng chỉ hành nghề chưa được xử lý dứt điểm. Hành vi này làm sai lệch năng lực thực tế của nhà thầu thi công. Khi sự cố công trình xảy ra, việc truy cứu trách nhiệm cá nhân rất khó khăn. Kỷ cương thị trường xây dựng bị ảnh hưởng tiêu cực từ các vi phạm này.

2.2. Bất cập trong quy trình phối hợp và hạ tầng quản lý số

Cơ sở dữ liệu quản lý chứng chỉ hành nghề quốc gia chưa kết nối đồng bộ. Dữ liệu giữa Cục Quản lý hoạt động xây dựng và địa phương bị phân mảnh. Việc tra cứu chéo thông tin giữa các tỉnh thành tốn nhiều thời gian xử lý thủ công. Quy trình số hóa hồ sơ lưu trữ chưa hoàn thiện tại nhiều cơ quan trực thuộc. Phần mềm thi sát hạch trực tuyến cần nâng cấp bảo mật và khả năng chịu tải. Đội ngũ cán bộ công chức phụ trách công nghệ thông tin còn mỏng. Sự chậm trễ trong chia sẻ dữ liệu tạo kẽ hở cho các đối tượng trục lợi chính sách.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đòi hỏi các giải pháp mang tính đột phá và đồng bộ. Cơ quan quản lý cần hoàn thiện thể chế và phân cấp thẩm quyền khoa học. Bộ Xây dựng cần đẩy mạnh phân quyền xét cấp cho các địa phương đủ điều kiện. Cục Quản lý hoạt động xây dựng tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ. Chuyển đổi số toàn diện là giải pháp then chốt để loại bỏ can thiệp thủ công. Xây dựng hệ thống quản lý điện tử giúp tự động hóa khâu tiếp nhận và xét duyệt. Cơ sở dữ liệu chứng chỉ hành nghề quốc gia cần tích hợp căn cước công dân gắn chip. Giải pháp này giúp ngăn chặn triệt để tình trạng mượn chứng chỉ và gian lận hồ sơ. Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ thụ lý hồ sơ phải được thực hiện thường xuyên. Mọi quy trình xử lý văn bản cần công khai trên cổng dịch vụ công quốc gia. Minh bạch thông tin sẽ củng cố niềm tin của doanh nghiệp và toàn xã hội.

3.1. Đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền trách nhiệm giám sát

Phân cấp quản lý là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Cục Quản lý hoạt động xây dựng cần phân quyền rõ ràng cho các Sở Xây dựng địa phương. Địa phương chịu trách nhiệm toàn diện về thẩm định và cấp chứng chỉ hạng II và hạng III. Trung ương duy trì quyền kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các sai phạm phát sinh. Cơ chế ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan xét duyệt phải được luật hóa. Phân quyền hợp lý giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính cho công dân. Bộ máy trung ương giảm tải công việc để tập trung hoạch định chính sách chiến lược.

3.2. Chuyển đổi số và liên thông cơ sở dữ liệu chuyên ngành

Hạ tầng công nghệ thông tin cần được đầu tư nâng cấp hiện đại. Cục cần xây dựng hệ thống phần mềm sát hạch thông minh và tự động chấm điểm. Dữ liệu chứng chỉ hành nghề phải liên thông với cổng thông tin Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc này giúp xác thực văn bằng đại học ngay lập tức trên môi trường số. Cấp chứng chỉ điện tử có mã QR định danh giúp tra cứu nhanh chóng tại công trường. Chủ đầu tư dễ dàng kiểm tra tính hợp pháp của nhân sự quản lý dự án. Chuyển đổi số triệt tiêu nguy cơ tham nhũng vặt và gian lận hồ sơ.

IV. Định hướng phát triển công tác cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng

Quản lý cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hướng tới chuẩn mực quốc tế và phát triển bền vững. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xây dựng là nền tảng bảo đảm an toàn công trình. Hoạt động quản lý phải tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch cho thị trường. Cục Quản lý hoạt động xây dựng tiếp tục khẳng định vai trò kiến tạo và điều hành hiệu quả. Mọi nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý phải đem lại giá trị thực tiễn cao nhất. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp tiết kiệm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Xã hội hóa công tác sát hạch thông qua các tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín là xu thế tất yếu. Nhà nước giữ vai trò giám sát tối cao và bảo đảm tính tuân thủ pháp luật nghiêm minh. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ nâng cao vị thế ngành xây dựng Việt Nam trong hội nhập kinh tế.

4.1. Tăng cường hợp tác với các hội nghề nghiệp chuyên ngành

Mô hình chuyển giao một số khâu sát hạch cho hội nghề nghiệp mang lại hiệu quả cao. Các hội nghề nghiệp như Tổng hội Xây dựng sở hữu đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm. Hội nghề nghiệp trực tiếp tổ chức bồi dưỡng kiến thức và đánh giá kỹ năng thực hành. Cơ quan quản lý nhà nước ban hành khung tiêu chuẩn và thực hiện hậu kiểm chặt chẽ. Cơ chế hợp tác công tư này giảm áp lực tài chính cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, chất lượng đánh giá sát hạch chuyên môn được nâng cao đáng kể. Sự tham gia của các tổ chức xã hội tăng cường tính khách quan.

4.2. Khẳng định giá trị thực tiễn của đề tài luận văn thạc sĩ

Đề tài luận văn thạc sĩ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc. Các phân tích phản ánh chính xác khó khăn trong quản lý cấp chứng chỉ hiện nay. Hệ thống giải pháp đề xuất có tính khả thi cao và bám sát định hướng của Bộ Xây dựng. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho cán bộ hoạch định chính sách. Đề tài đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước ngành xây dựng. Nâng cao hiệu lực quản lý góp phần xây dựng các công trình an toàn, bền vững và hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại cục quản lý hoạt động xây dựng bộ xây dựng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 1. Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 1. Khái niệm chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 1. Khái niệm về chứng chỉ hành nghề Khái niệm "chứng chỉ hành nghề" được sử dụng phổ biến trong xã hội nói chung và trong các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng, ví dụ: chứng chỉ hành nghề y, chứng chỉ hành nghề luật sư, chứng chỉ hành nghề kiểm toán, chứng chỉ hành nghề kế toán, chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản v.

Vậy chứng chỉ hành nghề là gì? Đi sâu tìm hiểu về chứng chỉ hành nghề cho thấy trong xã hội có những ngành, nghề muốn được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải có chứng chỉ hành nghề; ngược lại, có những ngành, nghề kinh doanh không yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề. Có những quan niệm khác nhau về chứng chỉ hành nghề. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Chứng chỉ: Giấy chứng nhận về trình độ đã đạt được ở từng môn sau một kỳ thi" [30, tr. Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn năm 2006: Chứng chỉ hành nghề: Văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật để hoạt động trong một ngành, nghề nhất định nào đó.

Tùy thuộc tính chất của ngành nghề và nhu cầu quản lý, Nhà nước xác định cụ thể những ngành nghề mà người hoạt động trong ngành, nghề ấy phải có chứng chỉ hành nghề. Thông thường những ngành, nghề kinh doanh cần có chứng chỉ hành nghề là những 10 ngành, nghề mà việc tiến hành hoạt động kinh doanh trong các ngành, nghề ấy có liên quan mật thiết đến lợi ích công cộng. Hiện nay, ở Việt Nam, các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề bao gồm: dịch vụ pháp lý, dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm; dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y; dịch vụ thiết kế công trình; dịch vụ kiểm toán; dịch vụ môi giới chứng khoán; sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, mua bán thuốc bảo vệ thực vật; dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải; mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề; đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thì một trong những người quản lý, điều hành doanh nghiệp phải có chứng chỉ đó.

Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề. Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp hoặc giám đốc quản lý doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề. Người có chứng chỉ hành nghề chỉ được đăng ký trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của một cơ sở kinh doanh và chịu trách nhiệm về việc tuân thủ đúng các quy định về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh của cơ sở đó [29, tr. Như vậy, chứng chỉ hành nghề có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, về hình thức.

Chứng chỉ hành nghề là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân. Có nghĩa là chứng chỉ hành nghề được cấp cho cá nhân mà không cấp cho tổ chức, hộ gia đình. Hai là, giá trị pháp lý của chứng chỉ hành nghề là văn bản cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật để hoạt động trong một ngành, nghề nhất định nào đó. Điều này có nghĩa là chứng chỉ hành nghề không phải là một "giấy chứng nhận" về 11 trình độ chuyên môn của người hành nghề.

Bởi lẽ, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho những người đã qua đào tạo ở các cơ sở đào tạo quốc gia (trường trung cấp, cao đẳng, dạy nghề, đại học, sau đại học) và cả những người đã hành nghề lâu năm, không có vi phạm pháp luật. Do đó, bằng tốt nghiệp của các cơ sở đào tạo (trừ trường hợp bằng giả và bằng thật nhưng học giả) và quá trình công tác mới là chứng chỉ xác nhận trình độ chuyên môn của người hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ là một trong những công cụ để quản lý, giám sát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề [25]. Ba là, chứng chỉ hành nghề cũng là công cụ để người hành nghề phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật những thông tin mới về tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hành nghề của mình.

Một người đã qua đào tạo và được cấp bằng, sau thời gian thử việc phải đến hội nghề nghiệp xin gia nhập hội và được hội cấp chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ hành nghề đó là một trong những điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động chính thức. Bốn là, chứng chỉ hành nghề thường có thời hạn ngắn từ 1-3 năm tùy theo thâm niên của người hành nghề. Người được cấp chứng chỉ hành nghề phải tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp và hàng năm phải tham gia lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật thông tin mới trong lĩnh vực hành nghề.

Nếu vi phạm một trong những quy định đó có thể bị thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc không được cấp lại và sẽ không được tiếp tục hành nghề. Quan niệm về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng Thuật ngữ "chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng" được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về xây dựng ở nước ta. Luật xây dựng năm 2014 đưa ra giải thích về chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng như sau: "Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là văn bản xác nhận 12 năng lực hành nghề, do cơ quan có thẩm quyền cấp cho cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 148 của Luật này có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về lĩnh vực hành nghề" [22, Khoản 1 Điều 149]. Bên cạnh các đặc điểm chung của chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng còn có một số đặc điểm đặc thù chủ yếu sau đây: Một là, về phạm vi.

Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là văn bản cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng. Hai là, về thẩm quyền cấp. Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được phân cấp thẩm quyền cấp theo các hạng; cụ thể: đối với cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng từ 07 năm trở lên thì chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng do Cục Quản lý hoạt động xây dựng - Bộ Xây dựng cấp (đây được gọi là chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I). Đối với cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng từ 07 năm trở xuống thì chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng do Sở Xây dựng hoặc Hiệp hội xây dựng cấp (Đây được gọi là chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hạng III).

Ba là, về thời hạn. Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng có thời hạn sử dụng trong vòng 05 năm. Hết thời hạn này, cá nhân có chứng chỉ hành nghề phải đến cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng làm thủ tục xin gia hạn và tham dự kỳ kiểm tra sát hạch. Ngân hàng đề kiểm tra sát hạch do Bộ Xây dựng xây dựng, quản lý và công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.

Ý nghĩa của công tác cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 1. Ý nghĩa về khía cạnh kinh tế Việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng mang lại hiệu quả kinh tế biểu hiện trên một số khía cạnh cụ thể sau: 13 Một là, về phía Nhà nước. Việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng góp phần động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu phí đối với cá nhân được cấp loại chứng chỉ này. Hai là, về phía cá nhân.

Cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là một trong những điều kiện để doanh nghiệp, công ty xây dựng ký kết hợp đồng lao động. Thông qua đó, họ có cơ hội làm việc để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Ba là, về phía doanh nghiệp, công ty xây dựng. Hoạt động xây dựng là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

Do tính chất đặc thù và ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản của con người, Nhà nước, xã hội nên pháp luật đòi hỏi cá nhân hành nghề xây dựng hoặc nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp, công ty xây dựng phải có kinh nghiệm chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp để tạo ra các sản phẩm xây dựng có chất lượng, bền vững đảm bảo an toàn cho người sử dụng, đáp ứng yêu cầu, thị hiếu của người sử dụng về mặt thẩm mỹ, kiến trúc, phong phú, đa dạng về mẫu mã, chủng loại v. Điều này có những tác động nhất định đến doanh thu, đến tiến độ bán các sản phẩm xây dựng và vòng quay của đồng vốn đầu tư của các doanh nghiệp, công ty xây dựng. Ý nghĩa về khía cạnh chính trị - xã hội Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng mang ý nghĩa về chính trị - xã hội biểu hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây: Một là, như phần trên đã đề cập, cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng là một trong những điều kiện để doanh nghiệp, công ty xây dựng ký kết hợp đồng lao động. Thông qua đó, họ có cơ hội làm việc để có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.

Như vậy, việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tạo điều kiện để cá nhân, người lao động tìm được việc làm trong các doanh nghiệp, công ty xây dựng. Trên cơ sở đó, một bộ phận cá nhân trong xã hội đến độ tuổi lao động tiếp cận được việc làm trong 14 lĩnh vực xây dựng. Hơn nữa, lĩnh vực này cần sử dụng một lực lượng lao động rất lớn có tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp. Muốn vậy, việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng được coi như là "một giấy thông hành" để người lao động có thể được làm việc trong lĩnh vực xây dựng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ