CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE TINH HÌNH PHAN BO VA ĐẶC TRƯNG CƠ LY CUA DAT YEU Ở DONG BẰNG SONG CỬU LONG. Dat yếu ở Đông Bang Sông Cửu Long. Các đặc trưng cơ lý của đất yếu khu vực Đồng Băng Sông Cửu Long.
ĐẶC DIEM SỬ DỤNG CU TRAM TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Ở DONG BẰNG SÔNG CUU LONG. Đặc tính chung của cây tràïm. Điều kiện và phạm vi áp dụng ctr fràm.¿- + EsEE SE EEEE SE krerrrg 15 2. Cơ sở gia cố nền đất băng cừ tràm.
Các nghiên cứu về gia cố nên bang cừ tram ooo. Các giải pháp kết câu nền móng gia CO cừ trAM eee cece ceceeceseseseeseeeseeeseetseeees 23 2. Những kinh nghiệm trong thi công CU tràm. Sự cố công trình có nền móng gia cố cừ tràm.
TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KE MONG CU TRAM TREN NEN DAT 51 —-. Nguyên tắc chung. Các yêu câu chung đối với công tác khảo sát.- 5 St EE S221 1E reeg 30 3. Những chỉ dẫn chung về thiết kế cir tram va móng cừ trảm.
Tinh toán cu tram theo khả năng Chiu tal. Tính toán cir tram theo khả năng biến dạng. Một số van dé thiết kế móng ctr tràm. 2s 1113111152 1E EErrxrd 36 CHƯƠNG 4.
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CỪ TRÀM DE XÂY DUNG NEN MONG CÔNG TRÌNH TREN DAT YEU O CAN THƠ BANG KET QUA THÍ NGHIỆM HIEN TRƯỜNG. Thí nghiệm bàn nén hiện trường. Một sô kết quả thí nghiệm ban nén trên nên có xử lý cir tram ở khu vực can thơ. Phân tích đánh giá các kết quả thí nghiệm ban nén.- ¿2 ees cess eeeeeeeeees 70 KẾT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ, .eeee s2 77 TÀI LIEU THAM IKHÁOO.56 78 LÝ LỊCH TRÍCH NGANG Họ và tên: Huỳnh Văn Lộc Ngày, tháng, năm sinh: 09/12/1976 Nơi sinh: Đồng Tháp.
Địa chỉ liên lạc SỐ / ,P. An Khánh, Q. Ninh Kiéu, TP. Điện thoại liên lạc: 0918.422 Email: lochuynhvan340@gmail.
QUA TRINH HOC TAP: — Năm 2000: Tốt nghiệp Dai Học Can Tho. — Năm 2011 — 2013: Học viên cao học khóa 2011 ngành Dia Kỹ Thuật Xây Dựng (CT)— Đại Học Bách Khoa— Đại Học Quốc Gia TP. QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC: — Năm 2000 - 2005: Công tác tại Công ty Cổ Phan Tư Van & Xây Dựng ATX, Số 174, Duong Trần Quang Diệu, Q. Bình Thủy, TP.
— Năm 2005 đến nay: Công tac tại Công ty Cổ Phần Tư Van & Đầu tư Xây dựng Tây Đô, Số 52, Đường Nguyễn Thị Minh Khai, P. Ninh Kiều, TP. _|- MO DAU Y nghĩa khoa hoc của đề tài Trong thực tế xây dựng ở Thành phố Can Thơ nói riêng và Đồng Bang Sông Cửu Long nói chung trong gan một thé kỷ qua, cir tram đã được sử dụng nhiều vào các công trình xây dựng: Dân dung, Công nghiệp, Hạ tang kỹ thuật, Thủy Loi. Trong trường hợp nay, ctr tram được xem như là phương pháp dé gia cố và xử lý nên dat yếu.
Cừ tram thường được đóng xuống nên đất yếu dưới móng công trình với mật độ 16 + 49cây/m?. Trong thực tế, khi cải tạo các công trình đã tồn tại hơn 50 năm qua người ta tìm thây cừ tràm vẫn còn tươi nguyên khi năm trong nên đất ngập nước. Str dung ctr tram dé gia cô nén đất yếu đã có hiệu quả nhất định do các nguyên nhân sau: - Cv tram là vật liệu mang tinh địa phương, loại cây mọc và trồng khá phổ biến ở Đồng Băng Sông Cửu Long. - Cir tram dé vận chuyển đến công trình khi Đồng Băng Sông Cửu Long có nhiều sông rạch và đường giao thông nông thôn.
- Pia tâng ở Đông Bang Sông Cửu Long là đất bùn sét lẫn tạp chất hữu cơ va có chiều dày 20 + 30m và việc xử lý cừ tràm tỏ ra hiệu quả. Việc gia cố nền đất yếu băng cừ tràm vẫn còn tiếp tục áp dụng ở Đồng Băng Sông Cửu Long, tuy nhiên phần nhiều thiết kế và thi công chỉ dựa vào kinh nghiệm. Đề tài “Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dung cir tram dé xây dựng nên móng công trình trên đất yếu ở Can Thơ bằng kết quả thi nghiệm hiện trường” sẽ gop phan phân tích, đánh giá thêm hiệu quả của phương pháp này. Nhiệm vụ của dé tài - Tong kết việc sử dung ctr tram ở Thành phố Can Tho nói riêng va Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung.
- Phan tích kết quả thí nghiệm ban nén và đánh giá khả năng sử dụng móng trên cừ tràm của một sô công trình tiêu biêu ở Thành phô Cân Thơ. Mục tiêu của dé tài - _ Việc tổng kết các kinh nghiệm cũng như cơ sở tính toán nên được xử lý cir tràm theo các phương pháp khác nhau như: Xem nên xử lý là nền tương đương hay xem cir tram là cọc gỗ. Cho phép rút ra các kết luận can thiết cho việc tính toán nền móng cho công trình vừa và nhỏ của khu vực. - _ Tổng hợp và phân tích kết qua thí nghiệm ban nén cho phép đánh giá lại mức độ tin cậy của phương pháp xử lý này.
Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo tốt cho các kỹ sư thiết kế. CHUONG 1 TONG QUAN VE TINH HÌNH PHAN BO VA ĐẶC TRUNG CO LY CUA DAT YEU O DONG BANG SONG CUU LONG 1. Dat yếu ở Đồng Bang Sông Cửu long 1. Câu trúc địa chất Theo kết quả nghiên cứu đã có của Tổng cục Địa chat, cau trúc Đồng Băng Sông Cửu Long có dạng bồi trũng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam mà trung tâm bồi trững có thé là vùng kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, khu vực nay đá gốc sâu tới 900m.
Vay quanh vùng trung tâm là các vùng cánh của bổn trũng và xa hơn là các đới nâng cao của móng đá lộ ra ở Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, bên kia là núi đá Hà Tiên, An Giang và Vịnh Thái lan. Phủ trên móng đá gốc là các thành tạo bở rời có tuổi từ Neogen (N) đến Đệ Tứ (Q), trên cùng là lớp trầm tích trẻ Holocene (Q) có tuổi khoảng 10.000 năm có nơi có chiều sâu lên đến hang trăm mét. Đây cũng chính là tầng đất yếu trên mặt và được sử dụng làm nên cho hâu hết các công trình khác nhau của khu vực. Tang tram tích trẻ Holocene có chiều day biến đổi từ 9 + 20m, có nơi đạt đến 100m.
Bề dày càng tăng theo hướng về biến. Do bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi chăng chịt và điều kiện tích tụ do nước mặt, sự phân bố của lớp trầm tích này đao động mạnh theo phương đứng cũng như phương ngang. Điều này gây nhiều khó khăn trong việc tính toán thiết kế nền móng, đặc biệt là móng cọc. Trầm tích này có nguôn gốc chủ yếu là sông (bôi tích a), biển (m) và sinh vật (b).
Lớp trầm tích cổ Pleistocene (Q “15 ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm khoảng 3 + 5 tập hạt min xen kẹp với 3 + 5 tập hạt thô. So với lớp trầm tích hiện đại, tính chất xây dựng của lớp này tốt hơn và thường được sử dụng làm nên cho các công trình có tải trọng lớn. Sự phân bo đất yếu Các vùng đất mềm yếu ở Việt Nam nói chung và ở Đồng Băng Sông Cửu Long nói riêng chủ yếu là những trầm tích Châu Thổ (Tam giác Châu) sông, bãi bôi, trầm tích bo, vũng, vịnh mới được hình thành trong kỷ Đệ Tw. Căn cứ vào nguôn gôc và điêu kiện hình thành sơ bộ có thê phân chia theo: a.
Sự phân bố theo chiều sâu Dựa vào chiều day của lớp đất yếu, có thé chia làm 3 khu vực như sau: 1- Khu vực có lớp dat yếu dày từ 1 + 30m: Bao gồm các vùng dat ven thành phố Hồ Chí Minh, thượng nguồn sông Vàm Cỏ Tây, Vam Cỏ Đông, phía Tây Đồng Tháp Mười, rìa quanh vùng bảy núi tới vùng ven biển Hà Tiên, Rạch Giá, rìa Đông Bắc từ Vũng Tàu đến Biên Hòa. 2- Khu vực có lớp đất yếu dày từ 5 + 30m: Phân bố kế cận khu vực 1 và chiếm đại bộ phận đồng băng và khu trung tâm Đông Tháp Mười. 3- Khu vực lớp đất sét dày từ 15 + 30m: Chủ yếu thuộc lãnh thé các tinh Tra Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre tới vùng duyên hải các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang. Các lớp trầm tích trên thuộc ba nhóm: Dat rời xốp, đất mềm dính và đất có thành phân, trạng thái, tính chất đặc biệt.
Do điều kiện thành tạo của đồng bằng, phan chính của khoáng sét tao đá có nguôn gốc lục địa, với điều kiện hóa lý mới của đới tạo đá, khoáng vật sét bị biến đổi và chuyển thành những khoáng vật mới. Chat hữu cơ đóng vai trò đáng kẻ, quyết định một loạt các tính chất đặc biệt của dat ở đồng băng mà ở nơi khác không có; đó là tính trương nở, co ngót và nén lún. Quá trình tạo đá của các trầm tích sét ở đồng băng là quá trình khử nước và nén chặt, nhờ các quá trình hóa lý và áp lực của trong lượng bản thân. Do đó, các tram tích trẻ ở đồng bằng có độ bên không thoát nước tăng theo chiều sâu.
Nhìn chung các trầm tích năm ở tâng tiếp xúc với đá gốc có độ cô kết lớn nhất và có độ bền cao hơn so với lớp trên. Mặt khác do ảnh hưởng của vận động tân kiến tạo, miền đồng bằng bị sụp lún, địa hình đá Ốc nghiêng ra biển tạo ra các tang trầm tích tiếp xúc với đá gốc có độ nghiêng tăng dan từ miền Đông Nam bộ và Vịnh Thái Lan về sông Tiên, sông Hậu, và mức độ cố kết của các trầm tích sẽ tăng theo chiều ngang từ biển vào phía Đông Bắc và từ phía Đông và phía Tây về sông Tién, sông Hậu. Sự phân bố theo mặt bằng Dựa theo đặc trưng thành phan thạch học, chiều dày của tầng đất yếu, tính chất địa chất công trình, địa chất thủy văn, toàn vùng đồng băng sông Cửu Long có thể chia thành 5 khu vực có hiện diện các dạng đất yếu như sau: KHU VUC I: Khu dat sét mau xám nau, xám vàng (bmQ,y) bao gdm các loại dat sét, a sét màu xám nâu, có cho dat mêm yêu nam gôi lên trên tram tích nén chat O¡¡, chiêu dày không quá 5m. Khu này thuộc đồng băng tích tụ, có chỗ tring lay nội dia, cao độ từ 1 + 3m.
Nước dưới dat gặp ở độ sâu 1 + 5m. Nước ở đây có tính ăn mòn acid và ăn mòn sulfat. Khi xây dựng công trình ở vùng này, cần chú ý các hiện tượng địa cơ như: lầy hóa. CAMPUCHIA | BÌNH PHƯỚC ‘ ‘ — ae N é `.
an bs = l / \ a X x TP.