Chương 1: Tổng quan về đıều kıện tự nhıên và hạ tầng gıao thông đường bộ tỉnh đồng tháp. Chương 2: Gıớı thıệu các phương pháp xử lý nền đất yếu. Chương 3: Kiểm toán, đánh giá việc sử dụng vải địa kỹ thuật và cừ tràm cho xây dựng nền đường đất yếu dự án đường 852B. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TỈNH ĐỒNG THÁP 1.
Tổng quan về điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tên gọi Đồng Tháp chính thức đi vào cuộc sống ngƣời dân địa phƣơng từ năm 1976, trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Sa Đéc và Kiến Phong cũ. Đồng Tháp là tỉnh đầu nguồn sông Tiền, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên 3.374,2 Km2, nằm ở tọa độ 10007’-10058’ vĩ độ Bắc và 105012’-105056’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Prây Veng – Vƣơng quốc Campuchia trên chiều dài biên giới 48,7 Km, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh An Giang, phía Đông giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Cao Lãnh, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 165 Km về phía Tây Nam.
Đồng Tháp là tỉnh duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long có đất đai nằm hai bên bờ sông Tiền và trải dài đến sông Hậu [10, tr. Vị trí địa lý tỉnh Đồng Tháp 5 1. Địa hình, địa chất và khí hậu, thủy văn * Địa chất Lịch sử phát triển địa tầng của tỉnh Đồng Tháp có cùng chung lịch sử phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với sự tạo thành của phù sa cổ (trầm tích Pleistocene) và phù sa mới (trầm tích Holocene) qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long. Chiều dày lớp đất yếu có nơi từ 15m đến 300 m (phía Tây vùng Đồng Tháp Mƣời dày từ 1,0m đến 30,0m).
Nguồn gốc đất yếu ở đây chủ yếu là trầm tích châu thổ (sông, bãi bồi, tam giác châu), trầm tích bờ, vũng vịnh và đều thuộc trầm tích kỹ thứ 4. Các loại trầm tích thƣờng gặp là các loại bùn, đất dính, có trạng thái từ dẻo mềm đến chảy và cát nhỏ bão hòa nƣớc. Đặc điểm cấu tạo thì đất yếu bao gồm nhiều lớp hình thành và không đồng nhất [3, tr. - Phù sa cổ (trầm tích Pleistocene, QIII) phân bố dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia (Tân Hồng) và chìm dần dƣới phù sa mới.
Ở huyện Tam Nông và phía Bắc huyện Tháp Mƣời, phù sa cổ nằm rất nông, cách mặt đất khoảng một vài mét hoặc lộ ra thành những giồng hoặc gò. - Phù sa mới (trầm tích Holocene, QIV) đƣợc hình thành trong giai đoạn biển tiến và lùi từ khoảng 6.000 năm trƣớc, bao gồm cấu trúc lớp sét mặn nằm bên dƣới và các trầm tích có chứa hàm lƣợng lớn chất hữu cơ, có độ ẩm tự nhiên cao hơn giới hạn chảy và các chỉ tiêu cơ học đều có giá trị thấp. * Địa hình Địa hình tỉnh Đồng Tháp tƣơng đối bằng phẳng với độ cao phổ biến từ 1 đến 2 mét so với mực nƣớc biển, theo xu hƣớng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Dòng sông Tiền chảy qua Đồng Tháp chia tỉnh 2 vùng lớn là vùng phía Bắc sông Tiền (vùng Đồng Tháp Mƣời thuộc thƣợng nguồn, tỉnh Kiến Phong cũ), dọc theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, nơi cao nhất không quá 4m và nơi thấp nhất chỉ có 0,7m và vùng phía Nam sông Tiền (nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu thuộc hạ nguồn, tỉnh Sa Đéc cũ), là nơi có địa hình dạng lòng máng, hƣớng dốc từ hai bên sông vào giữa với cao độ 6 phổ biến từ 0,8m đến 1,0m.
Địa hình tỉnh Đồng Tháp bị chia cắt bởi hệ thống thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt [10, tr. Nhìn chung, địa hình tỉnh Đồng Tháp bằng phẳng, phù hợp cho việc triển khai các công trình phục vụ sản xuất, phát triển giao thông. Tuy nhiên, do địa hình có nhiều kênh, đòi hỏi nhiều kinh phí để xây dựng cầu; nền đất yếu đòi hỏi chi phí xử lý nền móng cao, đặc biệt đối với các công trình hạ tầng giao thông. * Khí hậu và thủy văn Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng nhất trên toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lƣợng mƣa trung bình hàng năm 1.332,5mm, tập trung vào mùa mƣa, chiếm 90 – 95% lƣợng mƣa cả năm. Đặc điểm khí hậu này tƣơng đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Nhiệt độ trung bình năm 27oC, cao nhất năm 34,3oC, thấp nhất năm 21,8oC. Thủy văn chịu tác động bởi 3 yếu tố: Nƣớc lũ từ thƣợng nguồn sông Mê Kông, mƣa nội đồng và thủy triều biển Đông.
Chế độ thủy văn chia làm 2 mùa: Mùa kiệt nƣớc từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11 [10, tr. Theo các tài liệu khảo sát các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh thì nƣớc dƣới đất xuất hiện ở độ sâu 1,0m ÷ 3,5m so với mặt đất tự nhiên. Tầng chứa nƣớc chủ yếu là các lớp cát hạt bụi, hạt mịn, nƣớc dƣới đất có quan hệ chặt chẽ với nƣớc mặt. * Giới thiệu điều kiện tự nhiên khu vực xây dựng đƣờng ĐT 852B: Theo quy hoạch điều chỉnh tổng thể giao thông đƣờng bộ tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030, đƣờng ĐT 852B có điểm đầu giao với đƣờng ĐT 848 và khu công nghiệp Sa Đéc tại nút giao hiện tại, sau đó tuyến đi dọc theo phía Bắc sông Sa Đéc, qua Long Hƣng B giao với đƣờng ĐT 849, tuyến tiếp tục đi song song với kênh Sa Đéc – Lấp Vò, điểm cuối giao với đƣờng ĐH 64, khu vực bệnh viện đa khoa Lấp Vò.
Dự án thuộc huyện Lấp Vò, một huyện phía Nam sông Tiền (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) địa hình khu vực dọc tuyến tƣơng đối bằng phẳng, 7 cao độ bình quân thay đổi từ +1,0m đến +2,0m. Địa hình khu vực công trình có dạng lòng máng, phía gần sông Tiền và sông Hậu có địa hình cao hơn và thấp dần khi vào trong, cách xa sông Tiền, sông Hậu nên một số vị trí cục bộ cao độ thấp hơn +1,0m và cao hơn +2,0m. Vị trí tuyến nằm dọc theo kênh Lấp Vò – Sa Đéc và cách khoảng 200m, gần nhƣ cách đều giữa sông Tiền và sông Hậu. Khu vực xây dựng công trình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt là mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Theo hồ sơ điều tra, khảo sát thủy văn dự án đƣờng ĐT 852B, từ năm 1961 đến nay, đã có năm lũ đặc biệt lớn là năm 2000 (Hmax tại Tân Châu là 5,06 m), năm đặc biệt nhỏ là năm 1998 (Hmax tại Tân Châu là 2,81 m). Trong nhóm lũ lớn (1961, 1978, 1996, 2000, 2001, 2002, 2011) không chỉ có đỉnh lũ cao mà còn có lƣu lƣợng và tổng lƣợng lũ lớn, có ảnh hƣởng rất lớn đối với đời sống, phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng ngập sâu nói riêng. Dự án Đƣờng ĐT 852B đã đƣợc tính toán thủy văn cho toàn dự án từ bƣớc lập dự án đầu tƣ xây dựng. Theo đó, cao độ mực nƣớc tính toán lấy theo mực nƣớc tần suất 4%, mực nƣớc H4% dao động trong khoảng từ +2,33m đến +2,35m.
Về địa tầng khu vực xây dựng chủ yếu nằm trong các trầm tích Đệ tứ phân bố rộng rãi dƣới dạng đồng bằng thấp với nguồn gốc hình thành khác nhau, hình thành từ Pleistocen sớm tới Holocen có kết cấu các tầng mặt là đất yếu, chiều dày lớn. Qua khảo sát các hố khoan địa chất tại hiện trƣờng cho thấy tổng thể địa tầng khu vực xây dựng đƣờng ĐT 852B đƣợc chia thành các lớp nhƣ sau: Lớp 1: Đất đắp, đất trồng trọt (sét, sét pha) tại các bờ kênh, vƣờn cây ăn trái với loại đất thƣờng gặp là sét màu nâu, xám đen lẫn thực vật ở trạng thái dẻo cứng. Lớp này có chiều dày mỏng (0 1,4)m, ít có ý nghĩa về mặt địa 8 chất công trình nên không có thí nghiệm các mẫu đất. Lớp 2: Bùn sét cát lẫn thực vật, chiều dày lớp (17,3 20)m, trị số SPT từ 01 đến 04 búa.
Lớp 3: Sét màu xám nâu, xám đen. Đôi chỗ lẫn cát, thực vật ở trạng thái từ chảy, dẻo chảy đến dẻo mềm, chiều dày lớp (10 13)m, trị số SPT từ 03 đến 08 búa. Lớp 4: Cát hạt nhỏ màu xám nâu, xám nâu bảo hòa nƣớc, trạng thái chặt vừa, chiều dày lớp (5,0 10,2)m, nằm sâu (30 32)m so với mặt đất thiên nhiên, trị số SPT từ 20 đến 30 búa. Các hiện tƣợng địa chất động lực công trình thƣờng xảy ra trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là: - Xâm thực, bồi tích của dòng chảy thƣờng xuyên xảy ra.
Tại các điểm giao nhau giữa các kênh hiện tƣợng này xảy ra rõ rệt hơn. - Hiện tƣợng sạt lở bờ sông, mái ta luy nền đƣờng đắp thƣờng xuyên xảy ra đặc biệt vào mùa lũ lụt do mực nƣớc lên cao, tốc độ dòng chảy lớn. - Hiện tƣợng biến dạng lún và trƣợt khi xây dựng công trình, thƣờng gặp đối với nền đƣờng đắp cao và nền đƣờng vào cầu. Từ những điều kiện tự nhiên và các hiện tƣợng địa chất động lực vừa nêu, khi xây dựng nền đƣờng tại tỉnh Đồng Tháp nói chung và đƣờng ĐT 852B nói riêng, cần nghiên cứu giải pháp xử lý kinh tế - kỹ thuật để khắc phục các hiện tƣợng trên.
Giới thiệu hệ thống giao thông đƣờng bộ tỉnh Đồng Tháp 1. Hệ thống giao thông đường bộ khi thành lập tỉnh năm 1976 Ngành giao thông vận tải Đồng Tháp tiếp quản cơ sở vật chất hạ tầng giao thông hết sức nghèo nàn, đang trong tình trạng xuống cấp, các tuyến đƣờng đƣợc xây dựng phân bố không đều. Chủ yếu tập trung ở các huyện phía Nam sông Tiền (tỉnh Sa Đéc cũ) gồm: Quốc lộ 80, các tỉnh lộ 23, 29, 37 và 3 huyện lộ 2, 5, 45 dài tổng cộng 183 Km, chủ yếu là đƣờng đất, trải sỏi đỏ hoặc cán đá. Ở phía Bắc sông Tiền (tỉnh Kiến Phong cũ) chỉ có quốc lộ 30 dài 9 83 Km và chỉ lƣu thông đƣợc từ Cao Lãnh đến Hồng Ngự, tỉnh lộ 28 đi từ phà Cao Lãnh đến thị xã Cao Lãnh với quy mô cấp V đồng bằng có nền rộng 7m, mặt rộng 5m.
Toàn bộ vùng sâu Đồng Tháp Mƣời hoàn toàn không có đƣờng bộ.