phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo: luận văn gồm có 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính đào tạo nghề phổ thông cho học sinh trung học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý tài chính đào tạo nghề phổ thông cho học sinh trung học tại Trung tâm Giáo dục - Dạy nghề thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. 4 Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính đào tạo nghề phổ thông cho học sinh trung học tại Trung tâm Giáo dục - Dạy nghề thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐÀO TẠO NGHỀ PHỔ THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. u n a) Khái niệm quản lý Quản lý (QL) là một hoạt động có định hƣớng, quản lý đƣợc hình thành trong xã hội con ngƣời thông qua lao động; hoạt động quản lý tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý là một tổ chức nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền vững của quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đó" [2].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là những tác động có định hƣớng, có kế hoạch có chủ thể quản lý đến đối tƣợng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định" [5]. Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [6]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức". Hiện nay, quản lý đƣợc định nghĩa rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [7].
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý (thuộc lĩnh vực xã hội), chúng ta rút ra những điểm chung sau: - Yếu tố con ngƣời giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý. - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm ngƣời trong xã hội. 6 - Hoạt động quản lý là những tác động có hƣớng đích. - Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Vậy, quản lý là một hoạt động của một tổ chức hay một nhóm ngƣời trong xã hội. Hoạt động quản lý là những tác động có hƣớng đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tƣợng bị quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. b hức năng quản lý Trong quản lý và hoạt động quản lý, chúng ta cần tìm hiểu ngƣời quản lý làm gì, làm nhƣ thế nào hay nói cách khác là tìm hiểu các chức năng của quản lý. Chức năng quản lý là một phạm trù quan trọng, mang tính khách quan, có tính độc lập tƣơng đối.
Chức năng quản lý là nội dung, phƣơng thức hoạt động cơ bản nhờ vào đó chủ thể quản lý tác động đến đối tƣợng quản lý thông qua quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nƣớc và nƣớc ngoài về quản lý đã bàn đến về các chức năng quản lý, tuy chƣa thống nhất tuyệt đối nhƣng có thể tổng kết lại trong quản lý gồm có bốn chức năng cơ bản: chức năng kế hoạch hoá; chức năng tổ chức; chức năng lãnh đạo (chỉ đạo) và chức năng kiểm tra. - Kế hoạch hoá Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản trong quản lý, kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và xác lập con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. Để thực hiện một công việc, kế hoạch hoá là hành động đầu tiên của ngƣời quản lý, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch.
Đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động cho cả tổ chức. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: + Xác định hình thành mục tiêu đối với tổ chức; + Xác định và đảm bảo về nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu; + Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu. - Tổ chức 7 Sau khi đã hình thành kế hoạch hóa, muốn triển khai ý tƣởng ngƣời quản lý phải tiến hành công tác tổ chức. Chức năng tổ chức trong quản lý là xây dựng các vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác của cá nhân, tập thể.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Trong quá trình xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý cần tính đến các điều kiện: môi trƣờng, kinh tế, xã hội. gây ảnh hƣởng đến quá trình tổ chức và thực hiện. Nếu việc tổ chức có hiệu quả thì ngƣời quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực phù hợp.
- Lãnh đạo (chỉ đạo) Lãnh đạo (chỉ đạo) là nhiệm vụ tiếp theo của ngƣời quản lý sau khi kế hoạch đã đƣợc thiết lập, cơ cấu bộ máy đƣợc hình thành, nhân sự đã tuyển dụng. Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến. Ở khâu này đòi hỏi ngƣời quản lý phải vận dụng một cách khéo léo các phƣơng pháp và nghệ thuật quản lý của mình. - Kiểm tra Kiểm tra là một chức năng quản lý quan trọng của ngƣời lãnh đạo, thông qua đó cá nhân, bộ phận hoặc tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động phát hiện những sai sót, lệch lạc nảy sinh trong quá trình thực hiện, tìm ra nguyên nhân để có các biện pháp khắc phục, sửa chữa cần thiết.
Kiểm tra đƣợc xem là quá trình tự điều chỉnh, muốn làm tốt công việc kiểm tra ngƣời quản lý cần phải: + Xây dựng đƣợc những chuẩn mực của hoạt động; + Đối chiếu, đo lƣờng kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đề ra; + Tiến hành điều chỉnh những sai lệch; + Điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung chuẩn mực nếu thấy cần thiết. 8 Các chức năng nêu trên đã lập thành một chu trình quản lý và đƣợc minh hoạ qua sơ đồ sau: KẾ HOẠCH KIỂM TRA THÔNG TIN TỔ CHỨC \ CHỈ ĐẠO Sơ đồ 1. Chức năng quản lý Nguồn: [8] 1. u n giáo ục Cũng nhƣ quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm đạt đƣợc những mục đích của mình.
Hay nói cụ thể hơn, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Tuỳ theo quan điểm tiếp cận mà quản lý giáo dục đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo tác giả Hồ Văn Liên: "Quản lý giáo dục (QLGD) là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời QL hay tổ chức QL) lên đối tƣợng giáo dục và khách thể QLGD về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng" [1]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì " QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đƣờng lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [1].
9 Theo tác giả Trần Kiểm: khái niệm "quản lý giáo dục" cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Khi đƣa ra quan niệm về quản lý vĩ mô và quản lý vi mô trong giáo dục, sẽ có hai khái niệm tƣơng ứng: một, cho quản lý một hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và một, cho quản lý một nhà trƣờng (quản lý vi mô). Đối với cấp vĩ mô: "Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cơ sở giáo dục là nhà trƣờng) nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục". Đối với cấp vi mô: "Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng xã hội trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng" [6].
Từ những khái niệm QLGD nêu trên, có thể hiểu một cách tổng quát, dù ở cấp độ nào cũng thấy rõ các yếu tố cơ bản của QLGD: chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo nên sơ đồ sau: Công cụ QL Chủ thể Đối tƣợng bị Mục tiêu Khách thể QL quản lý quản lý quản lý Phƣơng pháp QL Sơ đồ 1. Các yếu tố quản lý giáo dục Nguồn: [8] 10 1. Tài chính “Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dƣới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định”.