Đặt vấn đề Để thực hiện đƣợc mục tiêu hình thành kĩ năng nghề dạy học cho sinh viên đại học sƣ phạm (ngƣời đang "học nghề" chứ chƣa "hành nghề"), cần thiết phải dựa trên những cơ sở lí thuyết nào và theo trình tự logic nào? Đó là những câu hỏi cơ bản của luận án mà lời đáp chính là nền tảng khoa học của công trình. (1) Trƣớc hết, muốn hình thành kĩ năng nghề dạy học, cần hiểu biết cấu trúc của nghề đó về mặt chức năng. Chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề này và đã lựa chọn một phƣớng án làm cơ sở. Theo giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang, nghề giáo viên gồm 5 nhóm chức năng.
Chúng tôi đã chọn nhóm chức năng đầu tiên: thiết kế công nghệ dạy học cho bài học. cấu trúc nghề dạy học là cơ sở lý thuyết đầu tiên của luận án. (2) Đồng thời, vì trong nhóm chức năng đầu tiên này, ngƣời giáo viên phải có những hiểu biết sâu sắc về bài học thì mới thiết kế đƣợc công nghệ của bài học hóa học. Do đó cơ sở khoa học thứ hai của luận án là lí thuyết về bài học.
Sự phân loại về bài học của nhiều tác giả hiện đại đều chú ý đến bài học kiểu I: bài nghiên cứu tài liệu mới. Chúng 12 tôi đã hạn chế phạm vi nghiên cứu ở việc hoàn thành kĩ năng thiết kế công nghệ bài học kiểu I (nghiên cứu tài liệu mới). Dựa vào lí thuyết về bài học, chúng tôi xác định cụ thể qui trình algorit thiết kế công nghệ dạy học bài nghiên cứu tài liệu mới về hóa học. Nói cách khác, chúng tôi đã xác định qui trình các bƣớc của việc soạn giáo án bài hóa học kiểu I.
(3) Qui trình thiết kế công nghệ bài học đã giúp chúng tôi vạch ra đƣợc cấu trúc của hệ thống những chức năng soạn giáo án cho một bài kiểu I. Đó là xác định mục tiêu của bài (M) xây dựng grap nội dung ( N), phân chia các bƣớc lí luận dạy học của bài, chọn phƣơng pháp dạy học (Pdh) từng bƣớc và cho toàn bài, xác lập tiêu chí và cách đánh giá hiệu quả (K) của bài v. (4) Để thiết lập đƣợc một hệ dạy học mới " tự học - cá thể hóa - có hƣớng dẫn" (theo tƣ tƣởng công nghệ dạy học hiện đại) thay cho cách đào tạo dựa vào diễn giảng của thầy là chủ yếu, chúng tôi đã chọn tiếp cận trò chơi mô phỏng để chuyển hóa những tình huống thực của nghe dạy học thành những bài toán tình huống mô phỏng. (5) Cuối cùng, để phục vụ cho hệ dạy học nói trên, chúng tôi biên soạn theo tiếp cận mô đun hệ thống bài toán tình huống mô phỏng cho qui trình thiết kế công nghệ bài kiểu I.
Đây là tài liệu giáo khoa dùng cho sinh viên tự học. Trong chƣơng I chúng tôi sẽ lần lƣợt trình bày những cở sở khoa học nói trên của luận án. Cấu trúc chức năng của nghề dạy học Cũng nhƣ mọi nghề khác nghề dạy học là một loại hoạt động lao động đòi hỏi ở ngƣời làm nghề đó những kiến thức kĩ năng, kĩ xảo chung và thuộc chuyên môn hẹp, xác định, mà họ thu lƣợm đƣợc trong quá trình học tập ở trƣờng phổ thông, chuyên nghiệp và bằng con đƣờng công tác thực hành. Quá trình đào tạo ngƣời giáo viên tƣơng lai có thể trở nên hợp lý hơn, có hiệu quả hơn nếu quá trình đào tạo đó dựa trên cơ sở một hệ thống bắt nguồn từ cầu trúc của hoạt động, nghĩa là hệ thống kiến thức kĩ năng, kĩ xảo về phƣơng pháp nghề nghiệp.
Việc nắm vững hệ thống đó đối với mỗi ngƣời sinh viên sẽ trở thành nấc thang quan trọng trên con đƣờng tiến tới tinh thông nghề nghiệp, sự lành nghề [10] vì vậy nghiên cứu cấu trúc chức năng của nghề dạy học của ngƣời giáo viên là rất cơ bản. Hoạt động nghề của giáo viên rất phức tạp, nó bao gồm hai lĩnh vực lớn gắn bó hữu cơ với nhau: giảng dạy và giáo dục, ở trên lớp, ngoài giờ và trong xã hội. Nếu chỉ xét riêng hoạt động dạy trên lớp ta cũng thấy tính phức tạp của nó: biên soạn giáo án, lên lớp giảng dạy, tổ chức và giám sát việc học ở nhà của học sinh, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nhƣ vậy hoạt động dạy đƣợc coi là hoạt động cơ bản chủ đạo của ngƣời giáo viên.
Dƣới ánh sáng của tiếp cận hệ thống, ta thấy hoạt động dạy của giáo viên đƣợc coi nhƣ là một hệ toàn vẹn mà "Bất cứ hoạt động nào cũng có một hay nhiều chức năng. Chức năng của một hệ là hình thức hay cách thức biểu hiện sự hoạt động của 14 hệ đó, là hành vi có mục đích và là kết quả hoạt động của chính hệ đó" [62]. Hoạt động dạy có những chức năng cơ bản gì? Có hai loại tiếp cận phƣơng pháp luận áp dụng vào việc nghiên cứu hoạt động dạy: tiếp cận dùng mô hình lí thuyết và tiếp cận qui nạp hoặc tiếp cận Bacon. Tiếp cận dùng mô hình lí thuyết: Căn cứ vào lí thuyết làm cơ sở, ngƣời ta xác định hệ thống phân loại những hành vi của thầy, trò trong lớp, ở trƣờng và phát hiện ra những mối liên hệ tồn tại giữa các phạm trù (biến số) của hệ phân loại đó.
Từ đó khái quát hóa những hành vi có tính đại diện cho tổ hợp những hành vi, sau đó kiểm nghiệm những khái quát hóa để xác nhận cái đúng và loại trừ cái sai. Tiếp cận qui nạp hoặc tiếp cận Bacon: Quan sát hành vi của giáo viên, ghi chép, phân loại, lí giải rồi từ đó đi tới những khái quát hóa lí thuyết, đƣa ra giả thuyết. Sau đó kiểm nghiệm giả thuyết bằng những quan sát tiếp theo. Liên kết những khái quát hóa thành một hệ thống, từ đó đi tới việc xây dựng một lí thuyết.
Sau đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả về chức năng hoạt động dạy của giáo viên [70] Theo hughes M.Bever ( 1969) [102]:Hoạt động dạy của giáo viên có những chúc năng sau: (i) Chức năng tổ chức. (ii) Chức năng áp đặt. (iii) Chức năng phát triển. (iv) Chức năng cá thể hóa.
(vii) Chức năng cụ thể hóa. (viii) Chức năng xúc cảm tích cực.Yu) Sears nêu lên 6 vai trò của ngƣời giáo viên: (i) Điều khiển. (iii) Giữ kỉ luật. (iv) Cung cấp thông tin.(1980) [87] Hoạt động sƣ phạm của giáo viên bao gồm 4 thành tố cơ bản sau đây: a) Hoạt động xây dựng - Xây dựng nội dung dạy học.
16 - Xây dựng quá trình lĩnh hội của trò - Xây dựng hoạt động của bản thân b) Hoạt động tổ chức: - Tổ chức nội dung môn học. - Tổ chức hoạt động của học sinh - Tổ chức hoạt động của bản thân. c) Hoạt động giao tiếp d) Họat động nhận thức - Tìm hiểu học sinh - Tìm hiểu mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp dạy hoc. - Tự tu dƣỡng để hoàn thiện nhân cách bản thân.Postic (1977): Tác giả đã nêu lên bản hƣớng dẫn mô tả những chức năng của ngƣời giáo viên trung học.
Chức năng tổ chức: i) Tổ chức các hoạt động - Chọn các phƣơng tiện dạy học để kiểm khai quá trình dạy học và chọn các con đƣờng lĩnh hội cho học sinh. ii) Điều chỉnh hoạt động của nhóm - Quan sát nhóm - lớp - Áp dụng điều lệ, qui tắc cho hoạt động của nhóm iii) Tích cực hóa hoạt động của nhóm iv) Kiểm tra đánh giá công việc của nhóm b. Chức năng truyền thống i) Truyền đạt những mẫu thao tác - Hình thành khái niệm khoa học - Mô tả sự kiện bằng ngôn ngữ khoa học (chẳng hạn diễn tả 17 chuyển động cơ học bằng đồ thị. - Lĩnh hội kĩ thuật thao tác trí tuệ để xử lí những vấn đề khoa học.
II) Truyền đạt nội dung - Chú ý đến các thành tố của nội dung - Cách thức xử lí thông tin khoa học - Hiểu biết về phƣơng pháp nghiên cứu khoa học - Cấu trúc hóa và xử lý nội dung dạy học cho vừa sức học sinh. - Phát biểu và trình bày kiến thức để truyền đạt. c- Chức năng khuyến khích i) Thức tỉnh động cơ ii) Kích thích sự quan sát iii) Động viên sự lập luận iv) Huy động sáng kiến cá nhân của trò v) Khuyến khích tính tự quản có tổ chức của đời sống trong nhóm học sinh. Gần đây nhất năm 1992, để góp phần vào việc phát hiện ra cấu trúc chức năng của hoạt động dạy, giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang có đề xuất một phƣơng án riêng.
Trên cơ sở nghiên cứu về lí luận dạy học trong nhiều năm, dựa vào sự phân tích khoa học và kế thừa những công trình của nhiều chuyên gia (nhƣ đã nêu ở trên), tác giả cho rằng hoạt động dạy của giáo viên có thể có những chức năng cơ bản sau đây (tóm tắt): a- Chức năng thiết kế: - Thiết kế bài học 18 - Thiết kế hoạt động học - Thiết kế hoạt động dạy b- Chức năng thi công bài học trong mòi trƣờng dạy học: - Truyền thông tin - Điều khiển sự học tập - Triển khai hoạt động dạy. c- Chức năng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh. d- Chức năng giao tiếp e- Chức năng nhận thức hay tự bồi dƣỡng - nghiên cứu khoa học. Trong phạm vi của luận án, chúng tôi chỉ chọn chức năng thiết kế công nghệ bài học (theo Nguyễn Ngọc Quang).
19 $2- Cấu trúc của bài học hóa học Trong các hình thức tổ chức dạy học trong hệ lớp - bài: bài học, tự học, thi cử. và các hình thức khác thi bài học giữ vai trò cơ bản, chủ yếu quyết định - đó là vai trò chủ đạo. 2-1- Khái niệm bài học Bài học trong thực tế có nhiều tên gọi nhƣ bài lên lớp, giờ lên lớp, giờ học. Bài học là hình thức dạy học cơ bản chính yếu ở trƣờng trung học.
Nó là một quá trình dạy học sơ đẳng, trọn vẹn. Bài học có thời lƣợng xác định, sĩ số giới hạn, tập hợp thành lớp những học sinh cùng độ tuổi, cùng trình độ học lực trung bình. Ở đây dƣới sự điểu khiên sƣ phạm của giáo viên, học sinh trực tiếp lĩnh hội một đoạn trọn vẹn của nội dung trí dục của môn học [67]. 2-2- Phân loại bài học Trong lí luận dạy học có nhiều cách phân loại bài học, theo chúng tôi cách phần loại sau đây sát với thực tế và hợp lí hơn cả đó là sự phân loại bài học dựa vào mục đích lí luận dạy học của chúng.
Ngƣời ta phản loại bài học thành 5 kiểu [67].