Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên sƣ phạm trong mô hình đào tạo phối hợp, kế tiếp a + b theo tiếp cận hệ thống. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên sƣ phạm Trƣờng Đại học Giáo dục trong mô hình đào tạo phối hợp, kế tiếp a + b theo tiếp cận hệ thống. Chương 3: Biện pháp quản lý sinh viên sƣ phạm Trƣờng Đại học Giáo dục, ĐHQGHN trong mô hình đào tạo phối hợp, kế tiếp a + b theo tiếp cận hệ thống. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN SƢ PHẠM TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG MÔ HÌNH ĐÀO TẠO PHỐI HỢP KẾ TIẾP A + B THEO TIẾP CẬN HỆ THỐNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề Với quan điểm “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo”, hiện nay, rất nhiều mô hình đào tạo mang tính liên thông, liên kết cao ra đời.
Những mô hình đào tạo mở, có tính liên thông cao này ra đời kéo theo đòi hỏi công tác quản lý sinh viên cần phải có những điều chỉnh phù hợp với mô hình đào tạo. Trên thế giới Tại Mỹ, các mô hình đào tạo giáo viên rất phong phú và đa dạng. Vào giữa thập niên 1980, một nhóm các trưởng khoa sư phạm chuyên nghiệp đã cùng nhau thảo luận và phân tích một cách có hệ thống vấn đề này. Những kết quả nghiên cứu quan trọng trong báo cáo của nhóm này là tất cả các chương trình đào tạo giáo viên có chất lượng cần phải có: bằng cử nhân của các ngành học có liên quan, tiếp theo là một năm học nghiệp vụ sư phạm và thực hành dạy học học sinh; các giáo viên không nên được đảm bảo vị trí giáo viên thường xuyên nếu không thể hiện được một sự hiểu biết thấu đáo về chuyên môn của mình.
Một số kết quả nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng những người tốt nghiệp chương trình kéo dài 5 năm với khối lượng kiến thức sâu hơn về các môn chuyên ngành và có hàm lượng sư phạm lớn hơn thường thỏa mãn hơn với nghề nghiệp của mình và coi chất lượng chương trình học của họ là cao hơn so với những người tốt nghiệp chương trình kéo dài 4 năm. Hơn nữa do sinh viên được tham gia thực hành dạy học đồng thời với việc tham gia các khóa học, nên họ có nhiều cơ hội so sánh, phân tích về lớp học mà họ dạy học song song với việc tham gia các lớp học về nghiệp vụ sư phạm. Điều này giúp họ học cách trải qua một quy trình mang tính chu kỳ tuân theo các bước: lập kế hoạch – hành động – quan sát – phân tích – chỉnh sửa kế hoạch – hành động –v. Quy trình này giúp các giáo viên mới trở thành những người dạy học có khả năng tự đánh giá.
Nói cách khác, giáo viên mới học cách phân tích những trải nghiệm trong quá 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khứ và học từ những trải nghiệm này một cách có hệ thống. Nó thực sực có ý nghĩa với các chương trình đào tạo kiến trúc sư, bác sĩ, giáo viên bởi công việc của họ gắn với việc thực hành với con người và môi trường họ làm việc. Cũng như tại Mỹ, đào tạo giáo viên tại Đức có những đặc trưng được thể hiện như sau: trước năm 1980, giáo viên được đào tạo trong các trường Đại học sư phạm; từ những năm 1980 cho đến nay, các ngành học Sư phạm được tích hợp vào các trường Đại học tổng hợp đa ngành. Ngoại lệ còn một số ít bang đến nay vẫn tồn tại các trường sư phạm độc lập nhưng chỉ đào tạo các loại hình giáo viên cho các trường tiểu học và THCS.
Đối với công tác quản lý sinh viên, đã có rất nhiều những nghiên cứu về Quản lý sinh viên nói chung như: - Nghiên cứu của Ashley Tull và Linda Kuk (năm 2013) trong cuốn: “New Realities in the Management of Student Affairs: Emerging Specialist Roles and Structures for Changing Times” đề cập đến những vấn đề thực tế trong quản lý sinh viên, trong đó nhấn mạnh đến cấu trúc tổ chức và vai trò của chuyên gia trong bối cảnh thay đổi. - Nghiên cứu của Wang Zeng Guo (Năm 2000): “Modern College Sutudent Affairs Management theory and case studies” đã phân tích về quản lý hành chính trong quản lý sinh viên, bắt đầu từ việc tìm hiểu những yêu cầu chính đáng của sinh viên đến giải quyết những vấn đề thực tế nảy sinh như là mục tiêu của quản lý. - Nghiên cứu của nhóm tác giả đến từ Viện Công nghệ không gian của Pakistan (năm 2011): “Changing roles in student affairs: A New Landcape for Academia” đề cập đến vai trò Quản lý sinh viên như một tác nhân quan trọng cho quá trình phát triển năng lực cá nhân. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về quản lý sinh viên trong một mô hình đào tạo mở, có tính liên thông cao.
Trong nước Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có duy nhất ở Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN đào tạo cử nhân sư phạm theo mô hình phối hợp, kế tiếp a + b, một mô hình tận dụng tối đa giá trị của các đơn vị thành viên, phát huy tính mở, tính liên thông của Đại học đa ngành, đa lĩnh vực. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ 5 năm trở lại đây, có rất nhiều những nghiên cứu về quản lý sinh viên tại các cơ sở giáo dục Đại học như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả: Dương Minh Thu (năm 2014): “Quản lý sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn”. Đề tài này tuy chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là sinh viên nội trú của Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn nhưng cũng đã chỉ ra được những tồn tại và các biện pháp quản lý trong công tác quản lý sinh viên nội trú, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý sinh viên. Và đặc biệt là luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Đỗ Hoài Nam (năm 2016): “Quản lý công tác sinh viên ở Đại học Quốc Gia Hà Nội: nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Giáo dục”.
Trong đề tài này, tác giả đã xây dựng được khung lý thuyết về quản lý sinh viên. Làm sáng tỏ được thực trạng quản lý sinh viên tại Đại học Quốc Gia Hà Nội nói chung và thực trạng quản lý sinh viên tại Trường Đại học Giáo dục nói riêng, từ đó, có những nhận xét, đánh giá, những biện pháp trong công tác quản lý sinh viên ở trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN. Cùng trăn trở với tác giả Phạm Đỗ Hoài Nam, tác giả cũng đề cập đến vấn đề nghiên cứu này trong luận văn của mình là: “Quản lý sinh viên sư phạm Trường Đại học Giáo dục trong mô hình đào tạo phối hợp kế tiếp a + b theo tiếp cận hệ thống”. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn làm rõ nét hơn nữa việc quản lý sinh viên sư phạm trong một mô hình mở, có tính liên thông cao.
Đặc biệt, nghiên cứu sẽ được vận dụng các quan điểm, tư duy hệ thống để giải quyết bài toán quản lý sinh viên. Nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định tính đúng đắn của một mô hình đào tạo cử nhân sư phạm mới trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực, cũng như tìm những giải pháp trong công tác quản lý sinh viên theo quan điểm tiếp cận hệ thống. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất của con người.
Hoạt động quản lý tác động tới tất cả các lĩnh vực đời sống. Nó phản ánh sự nhận thức của con người đối với tự nhiên, môi trường và xã hội xung quanh. Quản lý đúng có nghĩa là con người đã có những nhận thức đúng, đã nắm được quy luật và vận động theo quy luật của tự nhiên, của môi trường. Nhờ có hoạt động quản lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đúng đắn con người đã có thể vượt lên trên mọi khó khăn của hoàn cảnh và tạo ra nhiều thành tựu giải phóng cho mình, cho nhân loại.
Theo Từ điển Giáo dục học thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan" [32, tr.“Quản lý là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo chức năng quản lý như xác định mục tiêu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, phối hợp, kiểm tra, huy động và sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực.để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định” [32, tr.Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải có chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ” [6, tr. Henri Fayol thì xuất phát từ các loại hình hoạt động QL khi cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [6, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt động QL là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, tr.
Tuy các khái niệm có cách diễn giải khác nhau nhưng bản chất chung cả khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. QL tồn tại trong mọi quá trình hoạt động của xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức xã hội vận hành và phát triển. Trong khái niệm quản lý, ta cần chú ý các yếu tố sau: - Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động quản lý. Nó trả lời cho câu hỏi: Ai QL? - Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động của QL.
+ Khách thể QL có thể là người, trả lời cho câu hỏi: QL ai?