Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Phương tiện dạy học nói riêng và cơ sở vật chất - thiết bị dạy học nói chung là một yếu tố quan trọng của hoạt động GD-ĐT ở bất kỳ một quốc gia, dù thời kỳ nào, dù hoạt động giáo dục đó theo những trường phái, quan điểm chính trị, tôn giáo khác nhau. Theo quan điểm triết học thì mối quan hệ giữa ba phạm trù nội dung, phương pháp, phương tiện quyết định chất lượng một hoạt động của con người. Giáo dục là một hoạt động đặc biệt, ngoài yếu tố nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp dạy học thì PTDH là yếu tố rất quan trọng không thể thiếu, quyết định CLGD.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề nói trên cũng đã được thực hiện, phát triển theo trình độ, tính chất của nền giáo dục tương ứng. Sự tiếp nối và học hỏi, vận dụng, phát huy kinh nghiệm của các quốc gia, của các chính sách trong QLGD trước đây là một yêu cầu quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT hiện nay. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý PTDH ở các trường CĐKT-KT theo tiếp cận ĐBCL GD, không thể không xem xét, đánh giá những kết quả đã được nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước. Những thành tựu đã đạt được, những vấn đề chưa được đề cập sẽ làm cho việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp QL PTDH ở các trường CĐKT-KT sẽ có cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn vững chắc, đảm bảo tính khả thi trong ứng dụng vào thực tiễn dạy học.
Đó là sự vận dụng kinh nghiệm trong và ngoài nước để đi tắt, đón đầu trong đổi mới đào tạo nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong bức tranh phong phú, đa dạng nói trên, chúng tôi khái quát hóa những điểm nổi bậc nhất liên quan tới việc nghiên cứu QL PTDH ở các trường CĐKT-KT theo quan điểm tiếp cận ĐBCL GD ở Việt Nam và thế giới. Những kết quả nghiên cứu về phương tiện dạy học 1. Những nghiên cứu trên thế giới về phương tiện dạy học Ngay từ khi hình thành cơ chế GD-ĐT, cơ chế truyền thụ tri thức, kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau, từ phạm vi cộng đồng này sang cộng đồng khác của con người, những yếu tố hỗ trợ quá trình phát - nhận đã được nhìn nhận như là những công cụ GD, công cụ dạy học.
CSVC nói chung và PTDH nói riêng 10 được hình thành, phát triển song hành với sự phát triển, tiến bộ của kho tàng tri thức loài người cũng như cách thức mà loài người lưu giữ, truyền thụ những tri thức đó. Chính vì vậy, trên thế giới, đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến PTDH từ nhiều góc độ khác nhau. Nhà giáo dục Slovakia-J.Cômenxki (1592-1670) viết: “Điều cần thiết là khởi điểm của nhận thức bao giờ cũng xuất phát từ cảm giác”. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tính trực quan: “Kiến thức càng dựa nhiều vào cảm giác thì nó càng xác thực”, “Tính trực quan tạo ra khả năng làm cho nhà trường trở nên sinh động, nó dạy cho học sinh hiểu và nghiên cứu thực tế một cách độc lập [11].
Cũng theo Slovakia-J.Cômenxki, trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, đã viết “…không có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảm giác. Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy - học không thể bắt đầu từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng.”, và rút ra nguyên tắc “lời nói không bao giờ đi trước sự vật”. Đóng góp lớn nhất của ông là đã tổng kết, phát triển kinh nghiệm tích lũy được về trực quan và đưa áp dụng nó một cách có ý thức vào dạy học. Nhà giáo dục học J.
Nhà hoạt động văn hóa V.BêlinSki (1811-1848) đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý thuyết trực quan dạy học. Tư tưởng của ông gắn liền với tư tưởng dạy học phát triển. Với nhà giáo dục K.Usinxki (1824-1870) thì nguyên tắc trực quan trong dạy học đã được nâng lên một trình độ cao hơn. Ông cho rằng trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người.
Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh. Công trình nghiên cứu của A. Lêonchep (1947) “Những vấn đề tâm lý học của tính tự giác học tập” đã chỉ ra những cơ sở tâm lí học của tài liệu trực quan. Sự phân tích các thuyết khoa học cho rằng, các luận điểm xuất phát từ bất kỳ lý thuyết trừu tượng nào và sự diễn giải các kết luận của nó cần gắn liền với các vật thực, cần dựa trên những cấu trúc trực quan nhất định.
“Phát hiện ra ý nghĩa vật lí 11 của các trừu tượng toán học, Omculianovski viết: là mặt cần thiết, quan trọng nhất của sự phát triển lý thuyết vật lí. Thiếu mặt này thì vật lí cuối cùng chỉ là những sơ đồ toán học chứ không phải là lý thuyết vật lí. Chỉ có mặt này mới cho các trừu tượng toán học một thể xác vật lí”. Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating creteria for the VTE Istitution.
ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở GD-ĐT để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông thì trong đó các tiêu chuẩn về CSVC - kỹ thuật chiếm 125/500 điểm. Trong cuốn “Dựa vào các chỉ số thực hiện để đưa ra các quyết định chiến lược” (Using Performance Indicators to Guide Strategic Decision Making, 1994), các học giả Mỹ Bottill và Borden (đã liệt kê 21 lĩnh vực thực hiện, trong đó có “Phương tiện cơ sở vật chất” và “Dịch vụ”. Đây cũng là 2 tiêu chí (tiêu chí 21: Hệ thống hạ tầng cơ sở; tiêu chí 22: Hệ thống thư viện) trong tổng số 26 tiêu chí thuộc Bộ tiêu chí kiểm định CL được đề xuất của công trình của Nguyễn Đức Chính [28] Mạng toàn cầu world wide web (www) do Tim Berner-Lee (1991) xây dựng đã tạo điều kiện cho sự ra đời hệ thống dạy học điện tử E-Learning. Vấn đề CLĐT cũng được nhiều nhà làm công tác giáo dục quan tâm.
Vào thập kỷ 70, các nước như Anh, Mỹ, Canada,… cho rằng CLĐT phải gắn liền với kinh phí đầu tư. Theo đó, đầu vào của quá trình đào tạo đóng vai trò quyết định CLĐT. “Đầu vào” ở đây được hiểu là nguồn lực, bao gồm CSVC kỹ thuật, nguồn tài chính, đội ngũ, chất lượng tuyển sinh,… Đều này đòi hỏi để duy trì CLĐT thì ngân sách đầu tư cho giáo dục phải tăng tương ứng với tỷ lệ sinh viên vào học Vào khoảng thập niên 80, GDĐH thế giới phải đương đầu với những thách thức mới, đó là nguồn kinh phí đầu tư bị hạn chế, nhu cầu học đại học tăng đột biến. Vì vậy, Chính phủ các nước này cho rằng phải đầu tư ít nhưng giảng dạy phải nhiều và tốt.
Họ xem đó là phương châm cho giáo dục, yêu cầu các cơ sở giáo dục phải quan tâm đến hiệu quả và hiệu suất đào tạo của trường mình. Khi đó, vấn đề “đầu ra” của quá trình đào tạo được quan tâm, đặc biệt là CLĐT. Vào khoảng thập niên thập kỷ 90, việc bàn về CLĐT được đề cập khá sôi nổi, đã có nhiều định nghĩa về CLĐT dưới các góc độ khác nhau. Một trong những quan niệm được khá nhiều người thừa nhận, tiếp thu, phát triển đó là quan niệm của Harvey and Green (1993), theo hai ông, CLĐT ĐH được thể hiện trên 5 phương diện cơ bản: sự xuất chúng, sự tuyệt vời, sự ưu tú, xuất sắc; sự hoàn hảo; sự thích 12 hợp, phù hợp với mục đích; có giá trị đồng tiền, đáng giá để đầu tư; có sự biến đổi lớn về chất.
Năm phương diện này của CLĐT ĐH được thể hiện trong toàn bộ quá trình đào tạo, từ việc xác định chất lượng của nguồn lực đầu tư ban đầu (mục tiêu, yêu cầu, CSVC, tài chính, chương trình, đội ngũ GV, chất lượng SV nhập học) đến chất lượng của quá trình đào tạo và việc ĐBCL của sản phẩm đào tạo [109] Ở các nước phát triển, hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, PTDH là điều kiện cơ bản để tổ chức hoạt động của một cơ sở giáo dục. Trong hệ thống các tiêu chí kiểm định chất lượng, PTDH chiếm một vị trí quan trọng. Chính vì vậy, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý, CSVC và PTDH được khẳng định về tính chất quan trọng; những vấn đề liên quan đến hệ thống, quy mô PTDH, quá trình quản lý, khai thác sử dụng,… cũng được nghiên cứu, xác định những nguyên tắc và giải pháp. Đặc biệt, vấn đề sử dụng, QL PTDH theo định hướng phát triển năng lực người học, đảm bảo thực hiện CLGD đã có nhiều kiến giải mang tính khoa học, thực tiễn.
Các kết quả nghiên cứu của thế giới liên quan đến PTDH trong hoạt động dạy - học đã được tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Những nghiên cứu ở Việt Nam về phương tiện dạy học Một trong những điều kiện quyết định thành công mục tiêu của GD-ĐT là phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học. PTDH là một trong những thành tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Để nâng cao chất lượng dạy học thì vai trò, vị trí của PTDH là rất quan trọng.
PTDH là các phương tiện thực nghiệm, trực quan, thực hành giúp người học gắn lí luận với thực tiễn, giúp cho quá trình nhận thức của người học trở nên hiệu quả hơn, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng có hiệu quả các PTDH, đưa người học vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành các tiêu chí PTDH từ mẫu giáo đến phổ thông. Tiếp theo là những tiêu chuẩn để xây dựng và ban hành vào các năm 1975, 1985.