Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THEO TIẾP CẬN CIPO 1. Đào tạo tại trường cao đẳng theo tiếp cận CIPO 1. Hoạt động đào tạo tại trường cao đẳng 1. Khái niệm đào tạo “Đào tạo là một quá trình dạy - học có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào thực hiện tay nghề một cách có năng suất và hiệu quả” [18].
Như vậy, về bản chất đào tạo là quá trình tác động tới đối tượng cụ thể thông qua cách thức, phương pháp nhất định, biến đổi đối tượng được đào tạo trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn đã đề ra. Quá trình đào tạo là quá trình phối hợp hoạt động của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh nhằm phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh do nhà trường tổ chức, chỉ đạo và thực hiện theo nội dung của nhà trường. Nhiệm vụ cơ bản của quá trình đào tạo là cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành ý thức thái độ đến người học. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo.
một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và cải tiến nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là dạy học và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục tư duy đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ đạt được đào tạo của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học, tự nghiên cứu và tham gia các hoạt động xã hội, thông qua lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định. Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp.
Nghiên cứu đào tạo của trường cao đẳng Khi nghiên cứu về quá trình đào tạo có thể nói đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Công trình nghiên cứu “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội - quan niệm và giải pháp thực hiện” của Nguyễn Minh Đường và Nguyễn Thị Hằng [20] đã đề xuất một số giải 7 pháp để đào tạo đáp ứng theo nhu cầu xã hội; Tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha xuất bản cuốn sách “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [19]. Trong đó, tác giả đề xuất các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa với điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa. Công trình “Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp” của Trần Anh Tài [45, Tr. 77 - 81] nêu thực trạng đào tạo cao đẳng hiện nay là chưa gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với xã hội, giữa đào tạo với nhà sử dụng lao động.
Liên quan đến việc đào tạo thiếu gắn kết với doanh nghiệp, có công trình “ Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Phùng Xuân Nhạ [41, Tr. 1 - 8], trong đó tác giả đã nêu một vấn đề của giáo dục nước ta hiện nay là đào tạo thiếu gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp, làm rõ một số nội dung trong liên kết nhà trường – doanh nghiệp như lợi ích, cơ chế liên kết và điều kiện thành công. Ngoài ra còn có một số công trình khác như “Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay” của Phan Minh Hiền [27]; “Đào tạo theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Bành Tiến Long [37]. Mỗi quá trình đào tạo được hợp thành bởi các thành tố: mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương pháp đào tạo, hoạt động dạy, hoạt động học, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học.
Căn cứ theo Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày 01/03/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nội dung chương trình Đào tạo của trường cao đẳng bao gồm: tên ngành nghề đào tạo, mã ngành, trình độ đào tạo, đối tượng tuyển sinh, thời gian đào tạo, mục tiêu đào tạo, thời gian khóa học, khối lượng kiến thức toàn khóa, danh mục, thời lượng các môn học, hướng dẫn sử dụng các chương trình đào tạo. Mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo được quy định tại Điều 33, 34, 35 của Luật Giáo dục nghề nghiệp, trong đó: Mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của các trình độ cao đẳng và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc. 8 Như vậy, ngoài việc cung cấp kiến thức, giúp người học hình thành kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp thì mục tiêu giáo dục nghề nghiệp phải đảm bảo hình thành cho người học khả năng làm việc độc lập, tính tự chủ, có trách nhiệm với cá nhân cũng như với cộng đồng. Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấn theo nhu cầu đào tạo.
Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành với trang bị kiến thức chuyên môn; phát huy tính tích cực tự giác năng động, khả năng làm việc độc lập tổ chức làm việc theo nhóm; sử dụng phần mềm dạy học và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong người dạy và người học. Như vậy, phương pháp đào tạo nghề hiện nay có nhiều thay đổi so với các phương pháp đào tạo truyền thống nhằm thích hợp với mục tiêu đào tạo đề ra. Không còn lối truyền thụ kiến thức lý thuyết suông mà chú trọng việc rèn kỹ năng thực hành thực tế trên cơ sở trang bị cho người học kiến thức nền tảng của nghề cũng như kiến thức chuyên sâu. Để đào tạo ra những con người có khả năng tự chịu trách nhiệm với bản thân, chịu trách nhiệm với công việc, cũng như với cộng đồng thì phương pháp đào tạo phải tập trung vào việc tổ chức các hoạt động nhóm.
Việc đưa các phương tiện dạy học thông minh (Smart-Learning) vào quá trình đào tạo cũng là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người học được học tập mọi nơi, mọi lúc và luôn cập nhật những tri thức mới. Quá trình dạy học là thời gian mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Dạy học ở bất kỳ trình độ nào cũng đều tuân thủ nội dung trên, đặc biệt đối với giáo dục hệ cao đẳng, để đào tạo sinh viên có năng lực thực hiện nghề nghiệp thì giảng viên chỉ đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên để giúp họ tự khám phá ra tri thức mới. Hơn nữa, người thầy phải suy nghĩ để giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên cái của riêng người học.
Phối hợp với hoạt động đó của người thầy, người học tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển, tổ chúc hoạt động nhận thức của mình 9 nhằm nắm vững kiên thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, tực chủ làm việc, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức cho con người mới. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào phục vụ việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục. Hình thức đào tạo tại trường cao đẳng Trường cao đẳng là cấp học thuộc giáo dục đào tạo nghề, tuyển chọn những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, đào tạo trong thời gian ba năm. Người tốt nghiệp cao đẳng có khả năng hoạt động thực hành kỹ năng tay nghề trong các quy trình công nghệ không quá phức tạp, với trình độ giới hạn về lý thuyết.
Nghiên cứu về đào tạo có thể nói đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Công trình nghiên cứu “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội - quan niệm và giải pháp thực hiện” của Nguyễn Minh Đường và Nguyễn Thị Hằng [20] đã đề xuất một số giải pháp để đào tạo đáp ứng theo nhu cầu xã hội; Tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha xuất bản cuốn sách “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [19]. Trong đó, tác giả đề xuất các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa với điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa. Công trình “Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp” của Trần Anh Tài [45, Tr. 77 - 81] nêu thực trạng đào tạo cao đẳng hiện nay là chưa gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với xã hội, giữa đào tạo với nhà sử dụng lao động.
Liên quan đến việc đào tạo thiếu gắn kết với doanh nghiệp, có công trình “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Phùng Xuân Nhạ [41, Tr. 1 - 8], trong đó tác giả đã nêu một vấn đề của giáo dục nước ta hiện nay là đào tạo thiếu gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp, làm rõ một số nội dung trong liên kết nhà trường – doanh nghiệp như lợi ích, cơ chế liên kết và điều kiện thành công.