ĐẶT VẤN ĐỀ 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Lý thuyết, khái niệm 2.1 Bản đồ chiến lược và thẻ điểm cân bằng (BSC) - Bản đồ chiến lược là bản đồ “vẽ” ra cách mà tổ chức kết nối những mục tiêu trong mối liên hệ “nguyên nhân – kết quả” với mỗi yếu tố trên cơ sở lý thuyết BSC[4]. - BSC là hệ thống biến tầm nhìn, chiến lược thành mục tiêu, chỉ tiêu đánh giá và hoạt động cụ thể. Là hệ thống quản lý dựa trên kết quả đo lường, kết quả đánh giá [5]. Khía cạnh tài chính Chúng ta tìm kiếm Mục tiêu Đo lường các bên liên quan như thế nào? Làm cách nào để khách hàng Chúng ta vượt trội thấy chúng ta? ở điểm nào? Khía cạnh khách hàng Khía cạnh quy trình nội bộ Mục tiêu Đo lường Mục tiêu Đo lường Khía cạnh đổi mới và cải tiến Làm thế nào để Mục tiêu Đo lường cải tiến và tạo ra giá trị? Hình 2.
Huynh et al [6] đã dựa trên lý thuyết BSC để đề xuất bản đồ chiến lược để thành công cho dự án đô thị ven biển. Nhóm tác giả đã đề xuất năm khía cạnh và mục tiêu của từng khía cạnh cụ thể: o Học hỏi và phát triển: Để xác định cơ sở hạ tầng (con người, hệ thống và văn hóa) mà tổ chức cần phải xây dựng để phát triển lâu dài; o Quy trình nội bộ: Xác định các quy trình nội bộ quan trọng trong dự án; CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 8 o Môi trường và xã hội: Đề cập đến hiệu quả hoạt động xã hội và môi trường phù hợp với chiến lược của tổ chức; o Tài chính: Đề cập đến hiệu suất tài chính liên quan đến chiến lược của tổ chức; o Các bên liên quan: Hiểu các bên liên quan hài lòng với một tổ chức như thế nào?. - Luận văn đã thao khảo cách TMT. Huynh et al [6] xây dựng bản đồ chiến lược để đề xuất bản đồ chiến lược cho một ban QLDA vốn ODA lĩnh vực GD cụ thể.2 Triển khai chức năng chất lượng - Quality Function Deployment (QFD) - Là công cụ quan trọng dùng cho cải thiện chất lượng trong ngành quản lý công nghiệp sản xuất.
Được nghiên cứu những năm 1960 do Giáo sư Shigeru Mizuno và Yoji Akao người Nhật. - QFD giúp hiện thực hóa yêu cầu khách hàng vào sản phẩm khi chế tạo, hướng đến kết quả sau cùng với yêu cầu của khách hàng có điểm chung lớn nhất. Custumer Whats Hows Input What-1 How-1 Correlation What-n How-n Relationship Relationship Relationship Hình 2.2: Sơ đồ quá trình QFD [7] - QFD đạt đỉnh cao khi Toyota áp dụng và phát triển “ngôi nhà chất lượng” – House of Quality. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 9 - QFD sau đó được áp dụng phổ biến khi American Supplier Institute áp dụng qua 4 giai đoạn (gồm 4 QFD đơn), và nó dần phổ biến cho các thiết kế phức tạp.
Sadiq [7], có ba hệ thống đánh giá trong quá trình QFD. Xếp hạng đầu tiên thường được gọi là xếp hạng MĐQT yêu cầu (whats) được phản ánh qua ý kiến của khách hàng. Thứ hai là đánh giá mối tương quan giữa yêu cầu và cách thức giải quyết các yêu (hows), và đánh giá thứ ba là đánh giá mối quan hệ qua lại giữa các cách thức giải quyết (hows).3) là một là một thuật ngữ liên quan đến QFD, là một ma trận ghi lại và thiết lập tất cả các quy trình trong việc thực hiện QFD [7]. Các thuật ngữ khác nhau được định nghĩa liên quan luận văn này như sau: o Whats: Là các KPI; o Hows: Là các CSF; o Ma trận tương quan: Thể hiện mức độ giải quyết các KPI của CSF; o Trọng số và xếp hạng: Là kết quả mức độ ưu tiên của các CSF để giải quyết các KPI; CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 10 o Ma trận tương tương quan (phần mái của HOQ): Thể hiện mối tương quan thuận nghịch giữa các CSF.
Nó thể hiện khi ưu tiên CSFi sẽ ảnh hưởng đến CSFj và ngược lại, từ đó cho phép cấp QĐ đi đến lựa chọn phù hợp với dự án của mình.3: House of Quality (HOQ) áp dụng cho luận văn 2.3 Dự án ĐTXD - Dự án ĐTXD là tổng hợp các kiến nghị sử dụng vốn để xây mới, cải tạo, sửa chữa CTXD để nâng cao, duy trì, phát triển trong khoảng thời gian và chi phí nhất định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án ĐTXD, dự án được thể hiện thông qua PrFs, Fs hoặc Báo cáo KTKT ĐTXD (khoản 15 Điều 3 LXD năm 2014). - Trong phạm vi luận văn, dự án ODA là dự án có cấu phần xây dựng.4 Vốn ODA, vốn vay ưu đãi (Nghị định 56/2020/NĐ-CP) - Là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: 2.1 Vốn ODA không hoàn lại - Là khoản vay không phải trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 11 2.2 Vốn vay ODA - Là khoản vay nước ngoài trong đó ưu đãi ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc theo quy định của bên cấp vốn nước ngoài hoặc ít nhất 25% đối với khoản vay không có điều kiện.3 Vốn vay ưu đãi - Là khoản vay nước ngoài có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA.5 Ban QLDA ĐTXD - Ban QLDA ĐTXD được thành lập để QLDA cùng chuyên ngành, cùng tuyến công trình hoặc cùng địa bàn.
- Ban QLDA ĐTXD gồm: Ban QLDA ĐTXD chuyên ngành, ban QLDA ĐTXD khu vực và ban QLDA ĐTXD một dự án (Điều 63, 64 LXD năm 2014).6 Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi ĐTXD (PrFs) - PrFs là tài liệu trình bày sơ bộ về sự cần thiết, tính khả thi, hiệu quả của việc ĐTXD, làm cơ sở QĐ hoặc chấp thuận chủ trương ĐTXD (Điều 3 LXD năm 2014 và LXD sửa đổi năm 2020).7 Báo cáo nghiên cứu khả thi ĐTXD (Fs) - Fs là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, khả thi và hiệu quả của việc ĐTXD theo phương án TKCS được lựa chọn, làm cơ sở QĐ ĐTXD (Điều 3 LXD năm 2014 và LXD sửa đổi năm 2020).2 Tổng quan tài liệu 2.1 Đo lường hiệu suất - Đo lường hiệu suất (performance measurement) là một quá trình định lượng hiệu suất hoạt động trước đó. Thước đo hiệu suất (performance measure) được định nghĩa là tham số định lượng hiệu suất của các hoạt động trước đó. Thước đo hiệu suất giúp mọi người theo dõi xem họ có đang thực hiện đúng theo hướng mình mong CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 12 muốn hay không, giúp các nhà quản lý xác định xem họ có đạt mục đích ban đầu được họ đưa ra không. Cùng với sự phát triển của việc đo lường hiệu suất trong ngành xây dựng thời gian qua, mục tiêu đo lường hiệu suất đã được mở ở cấp độ công ty và cấp độ các bên liên quan đến dự án [10], sự tập trung của đo lường hiệu suất cũng đã thay đổi.
Nhiều năm trở lại đây chỉ số đo lường hiệu suất quan trọng là: cấp độ hài lòng của khách hàng, hiệu suất doanh nghiệp, sức khỏe, an toàn, môi trường,… [11]. - Qua đánh giá các bài nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2009, có thể chia các nghiên cứu về đo lường hiệu suất tập trung thành ba cấp độ [10]: o Cấp độ dự án (project level); o Cấp độ công ty (Company level); o Cấp độ các bên liên quan (stakeholder level). - Cấp độ dự án áp dụng cho luận văn này. Một dự án ĐTXD thường phức tạp và duy nhất, bao gồm nhiều bên liên quan, vì vậy đo lường hiệu suất cũng sẽ nhận được những đánh giá khác nhau đối với những quá trình, khía cạnh khác nhau, môi trường và quan điểm của từng bên liên quan khác nhau [12].
Những khía cạnh khác nhau được chia thành [13]: o Hiệu suất môi trường; o Hiệu suất nguồn lực con người; o Đổi mới công nghệ; o Hiệu suất đấu thầu; o Hiệu suất an toàn; o Hiệu suất thiết kế; o Đánh giá sau khi thuê; o Sự bảo trì; o Nhiệt độ và không khí; CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 13 o Sự hài lòng; o Hiệu suất chi phí; o Hiệu suất chất lượng; o Hiệu suất tiến độ.2 Các chỉ số hiệu suất chính (Key Performance Indicators - KPI) - KPI là chỉ thị, hệ số hiệu năng để kiểm soát quá trình thực hiện [14]. - TĐ - CP - CL là các tiêu chí thành công cơ bản của dự án và được nhiều nghiên cứu chỉ ra như [15] [16] [12]. Atkinson [17] đã gọi ba tiêu chí TĐ - CP - CL là tam giác sắt (iron triangle) của dự án thành công. Atkinson [17] còn đưa ra, tam giác sắt vẫn là yếu tố “cứng” dù cho có định nghĩa khác về QLDA.
Pinto [18] đề xuất đo sự thành công dự án nên gồm các kết quả tâm lý xã hội, sự hài lòng giữa các cá nhân với nhau trong nhóm thành viên dự án. Wuellner [19] năm 1990 cũng ủng hộ rằng sự hài lòng như là một thước đo thành công. Pocock et al [20] đưa ra thêm: Không có khiếu kiện pháp lý là một chỉ số thành công của dự án. Điều này đòi hỏi bao gồm cả sự an toàn, vì nếu tai nạn xảy ra cả nhà thầu và khách hàng đều phải chịu những khiếu nại pháp lý, tổn thất tài chính và chậm trễ hợp đồng [21].
Harris [22] đã tiếp cận toàn diện khi đánh giá thành công dự án, các tiêu chí cụ thể: An toàn, tiết kiệm CPXD, vận hành, thời gian, sự linh hoạt cho người dùng cuối. - Dự án được đánh giá theo các tiêu chuẩn: Sự đạt được về TĐ - CP - CL, sự hài lòng của khách hàng và người QLDA, chuyển giao công nghệ, thân thiện môi trường, sức khỏe và an toàn đã được [22] đưa ra năm 1996. - Các KPI được chia thành hai nhóm gồm: Nhóm được tính toán bằng công thức như: Tiến độ, chi phí, giá trị, an toàn, hiệu suất môi trường; nhóm còn lại sử dụng các ý kiến của quan, đánh giá cá nhân của các bên tham gia như: Chất lượng, công năng, CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 14 mức độ hài lòng của các bên [21]. Nói chung, các KPI cần phải bao gồm các thước đo định tính đi đôi với định lượng [23].
- Chỉ số hiệu suất chính (KPI) cho phép đo lường hiệu suất của dự án hoặc tổ chức trong ngành xây dựng. Những thông tin về hiệu suất chính này có thể được sử dụng để đo điểm chuẩn và là những thành phần chính của bất kỳ tổ chức nào muốn hướng đến đạt được những hoạt động tốt nhất [24].