Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Học thuyết Mác - Lênin với ba bộ phận hợp thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin và Chủ nghĩa cộng sản khoa học đã đưa ra những luận giải về hàng loạt các vấn đề của tự nhiên, xã hội và nhận thức của con người. Trong quan niệm về giáo dục, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác coi đó là phương thức không chỉ làm giàu tri thức cho con người, phục vụ cho xã hội, mà quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm cho con người được phát triển toàn diện các năng lực của mình.Anghen, “công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn…” và làm cho những thành viên trong xã hội “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình” [13, tr.
Quan điểm giáo dục của hai ông là phát triển nhân cách con người về mọi mặt theo “phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”. Quan điểm này được Lênin kế thừa và phát triển thành học thuyết giáo dục xã hội chủ nghĩa. Con người phát triển toàn diện theo quan điểm của Mác và Ănghen là con người có sức khoẻ, biết làm mọi việc, đó là con người sống khoẻ mạnh, sống an toàn và có khả năng thích ứng với sự biến đổi của xã hội và biến đổi của nghề nghiệp. Kế thừa những công trình nghiên cứu của Mác và Ăng ghen là những nghiên cứu của Macarenco đã đánh dấu một vấn đề quan trọng trong giáo dục kĩ năng sống đó là giáo dục giá trị sống của con người, khi giá trị sống thay đổi theo chiều hướng tích cực sẽ định hướng hành vi kỹ năng vào những việc hữu ích [13].
Những năm 70 của thế kỷ XX đã có những nghiên cứu và đưa ra cảnh báo về vấn 7 đề giáo dục thế hệ trẻ, A. Toffler với “Cú sốc của tương lai” và J. Delors với “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” và một số những nghiên cứu thử nghiệm giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục dân số, giáo dục môi trường,… Gần đây diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người tại Darka đã xác định rõ: Kỹ năng sống là một trong 6 mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống”. Các nước trên thế giới nói chung, các nước phát triển nói riêng đều đã và đang quan tâm nhiều đến kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống cho người học [17, tr.
Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI một số nước trên thế giới đã nghiên cứu và xây dựng chương trình chuyên trách về giáo dục giá trị sống, năm 1996 UNICEF đã tổ chức hội thảo thu hút được sự tham gia của nhiều nhà Giáo dục học, Tâm lý học, 1998 tại Mỹ đã tiến hành tổ chức một số hoạt động giáo dục giá trị sống ở một số tiểu Bang và đã thu được những kết quả có giá trị. Năm 2000 Mỹ đã lập ra một chương trình và một tổ chức phi lợi nhuận về vấn đề giáo dục giá trị sống. Tại Châu Á - Thái Bình Dương có mạng lưới về giáo dục giá trị sống và coi đây là một vấn đề giáo dục nhằm phát triển bền vững [22]. Ở Việt Nam Các tác giả Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Hồng Hạnh nghiên cứu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn đạo đức.
Tác giả đã nghiên cứu giáo dục kỹ năng sống qua cách tiếp cận môn học chiếm ưu thế và đề xuất được hệ thống các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc (đề tài cấp Bộ B2009 - TN 09-14) [27]. Tác giả Phan Thanh Vân nghiên cứu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên tác giả chưa thống kê được những kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh THPT thành phố, những nghiên cứu của tác giả chưa được khai thác gắn liền với giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT khu vực thành phố [29]. 8 Tác giả Nguyễn Thị Hường, nghiên cứu kỹ năng sống dưới góc độ khai thác trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học [20]. Năm 2012, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xuất bản cuốn tài liệu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường phổ thông, trong đó tác giả đã nhấn mạnh về vai trò của KNS, vai trò của CBQL các nhà trường trong việc quản lý hoạt động GDKNS ở các trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay [3].
Như vậy, hầu hết các tác giả đi trước đã nêu được tầm quan trọng, các hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, chưa tác giả nào đi sâu đề cập tới công tác quản lý phối kết hợp các lực lượng giáo dục Nhà trường - Gia đình và Xã hội trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh các trường tiểu học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống (KNS): - Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp cá nhân thay đổi, hình thành hành vi mới.
Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. - Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. - Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết (learn to know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học để làm (learn to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và làm nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm.; Học để cùng chung sống (learn to live toghether) 9 gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học làm người (learn to be) gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin… Như vậy kỹ năng sống được thể hiện trên nền giá trị sống của con người. Khái niệm kỹ năng sống nêu trên được xem xét trên cách tiếp cận tâm lý và theo nghĩa hẹp.
UNESCO (2003) quan niệm: Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Khái niệm kỹ năng sống nêu trên được xác định theo cách tiếp cận năng lực hành động của con người trước những vấn đề của cuộc sống. Thực tế cho thấy năng lực hành động của con người được tổ hợp từ nhiều thành phần năng lực khác nhau như năng lực chuyên môn, năng lực tri thức, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá nhân,… Khái niệm kỹ năng sống nêu trên được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm cả kĩ năng chuyên môn nghề nghiệp và kỹ năng bổ trợ mà trong thực tế chúng ta vẫn gọi là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm.
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Kỹ năng sống là năng lực làm cho hành vi và sự thay đổi của cá nhân phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày để sống thành công, hiệu quả” [26]. Như vậy có thể hiểu KNS là: Khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ năng sống Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng và hình thành những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, 10 thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp con người có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp. Theo tác giả Nguyễn Thị Tính giáo dục kỹ năng sống được hiểu như sau: Giáo dục KNS cho học sinh là một quá trình dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên, thông qua các hoạt động giáo dục và sinh hoạt hàng ngày, giúp cho hành vi và sự thay đổi của học sinh phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp các em có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức đối với bản thân trong các mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên những giá trị sống tích cực.
Giáo dục kỹ năng sống có những tính chất cơ bản sau: - Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình giáo dục có mục đích, có kế hoạch và biện pháp cụ thể. - Nhà giáo dục đóng vai trò là cố vấn, nhà tổ chức và hướng dẫn, khuyến khích và động viên người học. - Người được hưởng giáo dục kỹ năng sống phải chủ động, tích cực và đòi hỏi tính tự giác rất cao. - Quá trình giáo dục kỹ năng sống có tính năng động cao, mục đích cuối cùng là hình thành hành vi lành mạnh và một phần nhỏ về lợi ích kinh tế cho cá nhân và xã hội, quá trình này không quá coi trọng vấn đề tri thức, nhưng lại rất chú trọng kỹ năng cụ thể.
- Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia. - Giáo dục kỹ năng sống phải gắn liền với hoạt động dạy học, giáo dục và sinh hoạt của người học.