Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong thời đại hiện nay, vai trò mang tính quyết định của nguồn nhân lực trong sự phát triển KT-XH của một quốc gia đã được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn. Quản lý phát triển đào tạo nhân lực nói chung, trong đó có quản lý phát triển các Trường CĐN, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển KT-XH ở mỗi quốc gia, mỗi vùng đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đề xuất giải pháp theo các cách tiếp cận khác nhau, hướng đến mục tiêu phát triển nguồn vốn con người - nhân tố quyết định sự phát triển của các quốc gia. Những nghiên cứu trong nước Trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ (KH&CN), đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đặt ra yêu cầu phải đổi mới giáo dục trong đó có ngành dạy nghề để đảm bảo sự thành công trong hội nhập và phát triển.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 coi việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là NNL chất lượng cao, là một đột phá chiến lược để “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt mục tiêu tổng quát này, Đại hội Đảng khóa XI yêu cầu: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV&CBQL giáo dục là khâu then chốt” [12]. Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại Điều 33 quy định: “Giáo dục nghề nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng” và “Mục tiêu của GDNN là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm 10 nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp. đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh” [48].
Luật Dạy nghề 2006 tại Điều 4 đã cụ thể hoá: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước” [49]. “Chú trọng phát triển đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực” của Phạm Hiệp đăng trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế” đã nêu lên bức tranh toàn cảnh dạy nghề Việt Nam từ khi Luật Dạy nghề ra đời năm 2006, tác giả đã nhận định: những năm qua dạy nghề đã đạt được một số kết quả đáng kể trong việc phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, mở rộng quy mô và ngành nghề, đổi mới chương trình dạy nghề.tuy nhiên vẫn đang bộc lộ một số tồn tại cần được sớm khắc phục, đó là quy mô dạy nghề còn nhỏ (nhất là quy mô CĐN), chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ. Tác giả tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp phát triển dạy nghề để phát triển NNL. Đây không chỉ là trách nhiệm của nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mỗi cá nhân; phát triển NNL đi đôi với xây dựng và hoàn thiện giá trị con người trong thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, ý thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, sống có văn hóa, có lý tưởng [51].
“Quản lý giáo dục và đào tạo” do tập thể Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT biên soạn, đã khẳng định việc cải tiến công tác quản lý GD&ĐT được thực hiện nhằm mục đích đảm bảo chất lượng đào tạo, đảm bảo nhu cầu về số lượng, và cơ cấu ngành nghề đào tạo nhằm ổn định và phát triển nhà trường đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH. Điều đó đòi hỏi người làm công tác quản lý GD&ĐT ở từng nhà trường cũng như từng địa bàn phải nắm vững phương pháp luận, các phương pháp cụ thể trong cách thức tổ chức sư phạm, quản lý nhà trường để có nhận thức đúng 11 đắn mà tìm hướng đi, cách làm phù hợp cho mình, hướng đến việc đào tạo đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chương trình KH&CN cấp nhà nước KX-05 “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Viện nghiên cứu con người, đã nghiên cứu ở tầm vĩ mô bao quát nhiều vấn đề về phát triển văn hóa, con người và NNL trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa. Với cách tiếp cận hệ thống, vấn đề đào tạo nhân lực được đặt hệ thống các mối quan hệ với đầu vào là giáo dục phổ thông và đặc điểm con người Việt Nam, đầu ra là đội ngũ lao động kỹ thuật (LĐKT) phục vụ cho phát triển KT-XH trong thời kỳ CNH-HĐH dưới tác động của tiến bộ KH&CN, bối cảnh của thời đại và xu thế của GD&ĐT trên thế giới.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải được cải tổ, chuẩn hoá và hiện đại hoá theo các mô hình tiên tiến và phải thích ứng một cách linh hoạt, chủ động với cơ chế thị trường để chuẩn bị cho tiến trình hội nhập quốc tế và đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập [82]. Khoa học Công nghệ Giáo dục phổ thông ĐÀO TẠO Đặcđiểm con người VN NHÂN LỰC Kinh tế - Xã hội Xu thế giáo dục Thế giới Bối cảnh thời đại Hình 1. Sơ đồ tiếp cận hệ thống về đào tạo nhân lực “Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” của Phan Văn Nhân đã cung cấp những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực 12 GDNN của nước ta hiện nay, trong đó tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về dạy nghề theo năng lực thực hiện. Phương pháp tiếp cận mới này dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một nghề và đào tạo theo các tiêu chuẩn đó, bám vào kết quả đầu ra [43].
“Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM” của Trần Khánh Đức, tác giả đã nêu rõ cơ sở khoa học của quản lý phát triển NNL, đào tạo NNL theo yêu cầu của TTLĐ, cơ cấu đào tạo nhân lực ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Tác giả nêu một số khái niệm về chất lượng, đảm bảo chất lượng và khẳng định quan điểm cho rẳng chất lượng đào tạo của nhà trường thể hiện ở các đặc trung về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực thực hiện của người học sau tốt nghiệp. Tác giả đưa ra mô hình quản lý chất lượng theo TQM và hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 (TQM & ISO). Nhìn chung các phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng rất phong phú, đa dạng với nhiều loại hình trình độ khác nhau: sự phát triển về quy mô, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, vấn đề quản lý và kiểm định chất lượng [17].
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Các giải pháp xây dựng mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động” do Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề chủ trì, đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTN theo nhu cầu của cơ sở sản xuất kinh doanh và đề ra các nhóm giải pháp xây dựng mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó có nhóm giải pháp về: cơ chế chính sách, xác định nhu cầu đào tạo, tổ chức đào tạo, hợp tác quốc tế. Đề tài khoa học cấp Bộ: “Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay” của Viện khoa học giáo dục Việt Nam do Phan Minh Hiển làm chủ nhiệm đề tài, đã nghiên cứu thực trạng ĐTN đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp ở các khía cạnh: số lương, chất lượng, cơ cấu trình độ ĐTN, mối liên hệ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp để làm cơ sở cho các giải pháp nâng cao năng lực của ĐTN đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Luận án tiến sĩ Giáo dục học “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp 13 phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phan Chính Thức đã đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận vấn đề phát triển đào tạo nghề trong thời kỳ đổi mới, từ kết quả khảo sát thực trạng phát triển dạy nghề của quốc gia, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hướng tới đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Luận án tiến sĩ Giáo dục học “Phối hợp đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong KCN” của Nguyễn Văn Anh đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phối hợp đào tạo giữa CSDN và doanh nghiệp.
Theo tác giả, nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thực hiện các giải pháp tăng cường phối hợp đào tạo giữa CSDN và doanh nghiệp trong KCN như: Phát triển chương trình dạy nghề (CTDN) đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp; nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và tổ chức quá trình dạy thực hành, thực tập tại doanh nghiệp [1].