phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thƣơng mại - Chƣơng 2. Thực trạng về liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thƣơng mại - Chƣơng 3. Xây dựng chính sách liên kết thông tin khoa học và công nghệ nhằm quản lý nhãn hiệu và tên thƣơng mại (LUAN.mai 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM QUẢN LÝ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1. Khái niệm chính sách Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm [7]. Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp.
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra.mai 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai - Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội).
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đƣa ra định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. “Hệ thống xã hội” ở đây đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng,. Nhƣ vậy, nói về một quyết định chính sách, ngƣời quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh nhƣ sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp.
Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ƣu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dƣới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật, nhƣ nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tƣ hƣớng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trƣờng học,. - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện (LUAN.mai 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai một mục tiêu nào đó.
Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế,. Mỗi nhóm đƣợc đặc trƣng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tƣợng chính sách. - Chính sách phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội.
Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trƣờng, mục tiêu phát triển của một địa phƣơng, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, ngƣời quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhƣng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy đƣợc chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đƣờng cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau. - Cuối cùng, một chính sách đƣa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhƣng đến lƣợt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới.
Nhƣ vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bƣớc phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tƣởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển. - Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt đƣợc là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra. Khái niệm “Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây đƣợc sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung (LUAN.mai 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhƣng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó.
1 Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hƣớng tiếp cận nhƣ trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó. Định nghĩa của tác giả Luận văn: Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.29] Tác động dƣơng tính của chính sách Tác động dƣơng tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách. Tác động dƣơng tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới. Tuy nhiên, sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng có tác động dƣơng tính, mà còn có tác động âm tính.
Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan, vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách. Tác động âm tính của chính sách Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngƣợc lại với mục tiêu của chính sách. Tác động ngoại biên của chính sách 1 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia (LUAN.mai 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai - Tác động ngoại biên của chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách. - Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dƣơng tính và tác động ngoại biên âm tính.
- Tác động ngoại biên dƣơng tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách. - Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách. Chính sách khoa học và công nghệ Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia". Nhƣ vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trƣớc hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN.
Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phƣơng châm, điều lệ, qui định. Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nƣớc, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lƣợc nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN. Định nghĩa của tác giả Luận văn: Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [7;31], Luận văn xin đƣa ra định nghĩa về chính sách KH&CN nhƣ sau: 2 Vũ Cao Đàm (2012), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia , tr.mai 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.mai Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nƣớc trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp.