Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Thuật ngữ quản lý có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Theo khoa học quản lý: F.W Taylor (1856-1915) – một trong những ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm khoa học quản lý đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Henrry Fayol (1886-1925) – ngƣời đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình, quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và s dụng có hiệu quả nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Stephan Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và s dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [10]. Từ năm 1950 trở lại đây nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm tiếp cận theo kinh nghiệm; theo hành vi quan hệ cá nhân; tiếp cận theo lý thuyết quyết định; tiếp cận toán học; tiếp cận theo các vai trò quản lý.Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhƣ: - Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua những nỗ lực của ngƣời khác.
7 - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả cách hoạt động của những ngƣời cộng sự cùng chung một tổ chức. - Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đƣợc những mục đích của tổ chức. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Khái niệm về quản lý nhà nước Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nƣớc là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp và tƣ pháp) để thực thi quyền lực Nhà nƣớc, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nƣớc chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời theo pháp luật, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc. Đồng thời các cơ quan nhà nƣớc còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nƣớc nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình[12]. Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Khái niệm về nông thôn “Nông thôn” là một khái niệm thông dụng nhƣng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà 8 ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2016 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [20]. Từ những khái niệm phổ quát nêu trên, cùng với đặc thù nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk vì vậy khái niệm nông thôn có thể hiểu là: Nông thôn là khu vực dân cư sinh sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp dưới sự quản lý của cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Theo Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông thôn mới đƣợc hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ [9].
Trong nền kinh tế nông thôn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế phân theo vùng lãnh thổ - nông thôn nơi tạo ra vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trống trọt và sản phẩm chăn nuôi - những sản phẩm thiết yếu của đời sống xã hội. Tóm lại, từ thuật ngữ quản lý theo ngành, khái niệm QLNN đối với xây dựng nông thôn mới, đƣợc hiểu nhƣ sau: Quản lý nhà nước đổi với kinh tế nông thôn mới là hoạt động sắp xếp tổ chức, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra. của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương đổi với lĩnh vực nông nghiêp, nông thôn trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế nông thôn để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong nhân dân, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Sự cần thiết quản lý nhà nƣớc về dựng n ng th n mới 1.
Thực hiện chức n ng và tính định hướng c a Nhà nước - Hoạch định phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Dựa trên đƣờng lối, quan điểm, mục tiêu, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng xác định các quan điểm, mục tiêu và biện pháp mang tính định hƣớng phát triển nông nghiệp (lâm, ngƣ nghiệp) cho cả nƣớc và cho địa phƣơng, nhằm phát huy tiềm năng các nguồn lực để xóa đói giảm nghèo, xây dựng NTM. - Xây dựng đồng bộ và ban hành hệ thống thể chế tạo môi trường pháp lý cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống các chính sách, các biện pháp của Nhà nƣớc phải đƣợc xây dựng một cách đồng bộ, toàn diện và thƣờng xuyên đƣợc cải tiến nhằm đáp ứng thay đổi của thực tiễn khách quan, tạo điều kiện để khai thác các nguồn lực, tiềm năng của mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo đƣờng lối, chính sách và mục tiêu mà Nhà nƣớc đặt ra.
- Quy hoạch nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Nhà nƣớc quy hoạch, phát triển các lĩnh vực trong nông, lâm, ngƣ nghiệp và công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, từng bƣớc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hƣớng phát huy lợi thế của từng vùng nhằm nâng cao hiệu quả cây trồng, vật nuôi, nâng cao đời sống của ngƣời nông dân. ỗ trợ nh m đạt được chương trình, mục tiêu trong xây dựng nông thôn mới - Huy động các nguồn vốn phát triển kinh tể nông nghiệp, nông thôn. Tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tƣ, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ bảo hộ sản xuất, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ xóa đói giảm nghèo.để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hƣớng CNH, HĐH 10 phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế giới.
- Quản lý các hoạt động phát triển nông nghiệp, nông thôn: Thực hiện quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, mọi địa bàn với tất cả các thành phần kinh tế, các tổ chức cá nhân theo đúng các quy định của pháp luật và chính sách của nhà nƣớc 1. Giám sát, thanh tra, ki m tra nh m bảo đảm cho công tác xây dựng nông thôn mới tuân th nh ng quy định c a pháp luật. - Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đƣờng lối, chính sách, các thể chế quản lý của Nhà nƣớc, uốn nắm các sai lầm, lệch lạch. Đồng thời tổng kết các kinh nghiệm xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp để triên khai, áp dụng rộng rãi vào thực tiễn.
Nội dung quản lý nhà nƣớc về dựng n ng th n mới 1. oạch định chiến lược, quy hoạch xây dựng nông thôn mới Hoạch định là quá trình xác định mục tiêu và quyết định phải làm gì và làm nhƣ thế nào để đạt đƣợc mục tiêu. Hoạch định chiến lƣợc bao gồm các việc nhƣ: Xác định các ƣu tiên, tập trung các nguồn lực.nhằm hƣớng đến mục tiêu chung. Quy hoạch XD NTM là một trong những nội dung cơ bản và là bƣớc đi đầu tiên, quan trọng trong tổng thể nhiệm vụ XD NTM nói chung.
Quy hoạch tạo ra sự thống nhất giữa tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, s dụng đất, gắn chặt với quy hoạch phát triển KT-XH vùng, ngành, địa phƣơng, là công cụ quản lý XD NTM theo hƣớng hiện đại, chuyên nghiệp. Sự chính xác trong quy hoạch sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội. Ban hành các v n bản quản lý nhà nước và chính sách về xây dựng nông thôn mới 11 Hệ thống văn bản quản lý nhà nƣớc về XD NTM là các văn bản do cơ quan nhà nƣớc ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc x sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các vấn đề về XD NTM. Xây dựng hệ thống văn bản quản lý nhà nƣớc về XD NTM là rất cần thiết, giúp thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chủ trƣơng, chính sách về NTM.
Thông qua hệ thống văn bản này, Nhà nƣớc có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn trong công tác XD NTM, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình hình, yêu cầu mới, giúp quá trình quản lý, điều hành đạt hiệu lực, hiệu quả cao.