Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan nghiên cứu Phát triển nông nghiệp, nông thôn – XDNTM và giải quyết vấn đề nông dân là chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Liên quan đến vấn đề huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho XDNTM đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều góc độ khác nhau, điển hình là: 1. Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới Các tác giả Trần Quang Minh (2011) trong tác phẩm “Nông nghiệp Hàn Quốc trên đường phát triển”[51], Sooyoung Park (2009) với “Analysis of Saemaul Undong: a Korean rural development programme in the 1970s”[128] đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của nền nông nghiệp (NN) Hàn Quốc và những chính sách mà Hàn Quốc áp dụng trong giai đoạn CNH, HĐH nông thôn (NT) thông qua phong trào xây dựng “làng mới” của Hàn Quốc. Các giải pháp chính làm cho phong trào này thành công được đúc kết lại gồm: “Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực; Phát triển cộng đồng xã hội; Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án; Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương; Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân”[32].
Từ đó tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển NN, NT. Những thành công của các chính sách huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính (NLTC) cho phát triển NT mà Chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng, mang lại sự phát triển vượt bậc cho nền NN Hàn Quốc đó là: chính sách mở rộng chương trình trợ cấp trực tiếp, ổn định giá cả sản phẩm NN, phát triển và mở rộng các nguồn thu phi NN và các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh NN. Nguyễn Thành Lợi (2012) qua bài “Xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam"[48] cho rằng Nhật Bản trong quá trình phát triển nông thôn khi xác định nhiệm vụ trọng tâm theo từng giai đoạn. Giai đoạn đầu Nhà nước tăng cường NLTC cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ tín dụng nông nghiệp của Nhà nước; Giai đoạn hai, tập trung vào đẩy mạnh sản xuất NN và nâng cao đời sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn 3 hướng tới việc lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, đặc trưng của địa phương để phát triển.
Yếu tố thành công chủ yếu của phong trào 6 là nhận biết những NLTC chưa được phát huy tại địa phương và huy động, sử dụng các NLTC đó nhằm tập trung sức mạnh tổng hợp trong phát triển NT. Đỗ Tiến Sâm, trong tác phẩm “Vấn đề tam nông ở Trung Quốc, thực trạng và giải pháp”[80], Nguyễn Xuân Cường, trong tác phẩm “Quá trình phát triển kinh tế-xã hội nông thôn ở Trung Quốc”[7], Lê Thế Cương trong bài viết “Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam”[6] đã phân tích những vấn đề cơ bản từ thực tiễn con đường “hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc”, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với XDNTM ở nước ta. Những bài học về huy động, sử dụng các NLTC được các tác giả chỉ ra như: làm tốt công tác tuyên truyền, tạo chuyển biến một cách rõ rệt để nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa hiện đại hóa NN, NT trong cả hệ thống chính trị, đặc biệt với chủ thể chính là cộng đồng dân cư khu vực NN, NT; đổi mới hệ thống chính sách, cơ chế kinh tế NN, NT; thực hiện một cách đồng bộ các chính sách và kế hoạch phát triển NN, NT đã ban hành; phát triển các tổ chức kinh tế NN, NT và đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư vào NN. Phát triển kinh tế NT thông qua xây dựng hệ thống các thị trường ở NT; điều chỉnh sự phát triển của các xí nghiệp hương trấn; đổi mới thể chế hỗ trợ kinh doanh NN; thể chế quản lý, chính sách huy động và sử dụng NLTC; cơ chế kiểm tra, giám sát đảm bảo các NLTC cho xây dựng NTM được sử dụng hiệu quả nhất.
Chu Tiến Quang (2005), trong cuốn sách “Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế NT, thực trạng và giải pháp”[74], đã luận giải nội dung huy động và sử dụng các nguồn lực: đất NN, lao động NT, vốn cho phát triển NT; đưa ra nhóm các giải pháp nhằm phân bổ, sử dụng các nguồn lực trên một cách hiệu quả. Xét về mặt lý luận, điều cần nhấn mạnh ở cuốn sách này đó là đã đưa ra những phương thức huy động chủ yếu và một số kinh nghiệm sử dụng các nguồn lực hiệu quả, trong đó, nguồn lực đất đai, nguồn nhân lực và nguồn vốn được đánh giá là ba nguồn lực quan trọng quyết định đến phát triển kinh tế NT ở nước ta. Nguyễn Ngọc Luân (2011), trong đề tài “Nghiên cứu kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới nhằm đề xuất cơ chế chính sách áp dụng cho xây dựng nông thôn mới” [49] đã đưa ra kết luận: Kinh nghiệm ở các xã thí điểm cho thấy để huy động tốt các nguồn lực từ cộng đồng, ở mỗi xã khi XDNTM cần thực hiện tốt công việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của người dân; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch; thực hiện tốt vai trò của cán bộ, đoàn thể, người lãnh đạo để thực hiện lựa chọn ưu tiên trong XDNTM; huy 7 động sự tham gia của dân dựa theo đặc điểm văn hoá, tín ngưỡng. Khi xây dựng đề án XDNTM, cần xác định rõ khả năng của cộng đồng, các nguồn lực của cộng đồng, mức độ nhận thức, đặc điểm văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng.
Về các nội dung XDNTM, kết quả nghiên cứu thể hiện rõ nét nhất sự tham gia của cộng đồng cho xây dựng CSHT. Về các chính sách, mặc dù đã có nhiều văn bản quy định về sự vai trò của người dân địa phương nhưng chưa đầy đủ và chưa cụ thể, chỉ nêu ra một số hoạt động cần lấy ý kiến của người dân, chưa nêu rõ quy trình thực hiện. Cơ chế huy động vốn cũng chưa được ban hành, các nội dung huy động tiền, tài sản, lao động… từ người dân cũng do từng địa phương tự thực hiện. Nguyễn Sinh Cúc (2013), trong bài “Nhìn lại Chương trình xây dựng nông thôn mới sau 2 năm thí điểm” [4] đã cho rằng chương trình XDNTM đã huy động được NLTC nhiều hơn cho xây dựng CSHT NT theo hướng CNH,HĐH.
Tuy nhiên, những bất cập cũng còn rất nhiều như: chương trình này đòi hỏi nguồn vốn rất lớn nhưng nguồn lực từ Nhà nước và cộng đồng có hạn, có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước nên tiến độ triển khai các dự án rất chậm. Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2013) về “Đánh giá khung tài trợ cho cơ sở hạ tầng địa phương ở Việt Nam”[26] cho rằng thách thức chủ yếu của nước ta hiện nay là hiệu quả đầu tư vào CSHT nói chung và CSHT ở nông thôn nói riêng. Sự phân tán trong đầu tư vào CSHT dẫn đến sự trùng lặp và lãng phí, và là nguyên nhân sâu xa của tình trạng đầu tư thiếu hiệu quả. Nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu CSHT trong tương lai đã vượt quá khả năng của NSNN.
Phát hành trái phiếu là hình thức tài trợ nổi bật nhất ở cấp địa phương, nhưng thị trường trái phiếu ở Việt Nam hầu như chưa phát triển, và trên thị trường hầu như chỉ có trái phiếu Chính phủ. Một số yếu tố liên quan đến tài trợ và quản lý rủi ro, khiến khu vực tư nhân không hào hứng đầu tư vào CSHT. Đối với các ngân hàng thương mại, việc cho chính quyền địa phương vay vẫn còn rất hạn chế. Các ngân hàng miễn cưỡng cấp vốn cho các chính quyền địa phương, và coi việc cho vay xây dựng CSHT là quá rủi ro.
Quy định hiện tại cũng cho phép việc sử dụng đất để tạo ra vốn đầu tư, bằng tiền hay hiện vật, để xây dựng CSHT. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ “đổi đất lấy hạ tầng” gặp một số hạn chế: đất đai có hạn, và có nhiều nơi giá trị đất lại không đủ cao. Báo cáo đưa ra khuyến nghị cụ thể về các công cụ mới nhằm thu hút các NLTC đầu tư vào CSHT ở Việt Nam bao gồm: xây dựng quỹ phát triển địa phương đóng vai trò bên cho vay thứ cấp và cải thiện môi trường thuận lợi cho trái phiếu địa phương phát triển. 8 Luận án “Vốn để phát triển kinh tế NN, NT ở tỉnh Yên Bái” của Trần Ngọc Minh (2012) đã nêu ra “những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế NN, NT và vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế NN, NT.
Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp chủ yếu: nhóm giải pháp về huy động vốn, gồm huy động vốn từ NSNN, huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, huy động vốn từ các doanh nghiệp, huy động vốn từ dân cư, huy động vốn từ các nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế NN, NT; nhóm giải pháp về sử dụng vốn, gồm: phân bổ các nguồn vốn đúng hướng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để phát triển kinh tế NN, NT, tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng và chống lãng phí các nguồn vốn”[50]. Đoàn Thị Hân (2013), trong bài “Giải pháp huy động NLTC cho thực hiện chương trình XDNTM, trường hợp nghiên cứu điểm tại xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”[30] cho rằng các xã có điều kiện phát triển KT-XH thì việc huy động NLTC của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn đạt kết quả tốt hơn; ngược lại, ở những xã nghèo thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho XDNTM là hết sức khó khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình XDNTM chủ yếu phải trông chờ vào nguồn đầu tư từ NSNN.