Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA VIỆT NAM 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một khái niệm xuất hiện lâu đời, gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người.
Từ thời kỳ công xã nguyên thủy, xuất phát từ yêu cầu cần phải đoàn kết để sinh tồn đã xuất hiện các tổ chức thị tộc. Người đứng đầu thị tộc có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của thành viên thị tộc, phân công công việc hợp lý, đây chính là cơ sở sơ khai của hoạt động quản lý.Xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội càng phức tạp hơn thì yêu cầu về quản lý càng trở lên cần thiết. Nghiên cứu về khoa học quản lý có nhiều quan niệm khác nhau. Theo một các hiểu chung nhất, thì Quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra từ trước.
[10] Từ khái niệm trên, có thể thấy quản lý có một số đặc điểm sau: - Mục đích và nhiệm vụ của quản lí là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả một tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. - Quản lí được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Tổ chức tốt đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu quản lý theo kế hoạch đã đặt ra. Quyền uy trong tổ chức là quyền uy của nhà quản lý.
Nhà quản lý xây dựng được quyền uy tốt sẽ tạo được uy tín và dễ dàng thực hiện việc chỉ đạo, điều phối nguồn nhân lực. - Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lí điều khiển chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng bị quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Quyền uy được hình thành dựa trên uy tín, khả năng chuyên môn và các quan hệ xã hội khác. - Khách thể quản lí là trật tự quản lí.
Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau: Quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo. - Phương tiện: đa dạng tín điều tôn giáo, lương tâm, pháp luật, dư luật xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước Cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước cũng đã được hình thành. Quản lý toàn xã hội mang tính chất quyền lực của nhà nước, áp dụng quyền lực thông qua pháp luật Nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, các hành vi của con người trên mọi phương diện đời sống giúp cho xã hội được duy trì, phát triển một cách trật tự và thích hợp để từ đó các nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện một cách đảm bảo hơn.
Quản lý nhà nước có thể được thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ qua từng giai đoạn lịch sử. Thuật ngữ quản lý nhà nước có nhiều cách hiểu khác nhau: có quan niệm cho rằng quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. Hay Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Như vậy, thông qua những điểm chung của các khái niệm, một cách chung nhất – ta có thể hiểu: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước”.
[9] Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm riêng của quản lý nhà nước như sau: Thứ nhất, quản lý nhà nước là những hoạt động dựa trên pháp luật và quyền lực của nhà nước: tính quyền lực của nhà nước được xem là yếu tố nhằm giúp chúng ta phân biệt được quản lý nhà nước cũng như các hoạt động quản lý mang tính xã hội khác. Quyền lực của nhà nước được thể hiện rõ ràng nhất thông qua các 8 Luan van văn bản hành chính, các văn bản này thể hiện được những ý chí và quyết tâm của người quản lý nhà nước. Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi những người có quyền hạn, theo những quy định mà nhà nước đã ban hành thì chủ thể của quản lý nhà nước ở Việt Nam là những cơ quan và công chức hành chính nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước, vậy nên, đối tượng của cơ quan quản lý nhà nước là các mối quan hệ phát sinh trong xã hội, liên quan đến đời sống của người dân, pháp luật và các cơ quan nhà nước. Thứ ba, quản lý nhà nước là những hoạt động điều hành và chấp hành của nhà nước: Việc điều hành và chấp hành được xem là hai yếu tố then chốt giúp cho hoạt động quản lý nhà nước được diễn ra suôn sẻ hơn, tính chấp hành được thực hiện thông qua các văn bản mà nhà nước ban hành được chấp thuận và áp dụng vào trong thực tế, còn tính điều hành thì được thể hiện thông qua những quyết định, tổ chức và chỉ đạo các người quản lý theo một hệ thống giúp cho các văn bản được áp dụng vào đời sống một cách dễ dàng hơn.
Khái niệm về nông thôn và nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn Khái niệm nông thôn thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dã, ngạn ngữ đời sống trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. Theo Hoàng Chí Bảo trong công trình nghiên cứu về “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của l àng cũng khác nhau.
Làng – xóm là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xóm vừa có ruộng, có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng – xóm là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hóa.
Theo từ điển Tiếng Việt, nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. 9 Luan van Xuất phát từ khái niệm trên, nông thôn mang một số đặc điểm cơ bản như sau: - Về mặt địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị. - Về mặt kinh tế, nông thôn là nơi hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Ngoài ra, nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Về tổ chức xã hội – cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân với mật độ dân cư thấp hơn nhiều so với thành thị. - Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, lễ hội truyền thống, di tích lịch sử … Như vậy, nông thôn có thể được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. [11] Theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì: Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố. Khái niệm nông thôn mới Nông thôn mới là một khái niệm không còn xa lạ trong đời sống xã hội những năm trở lại đây.
Nông thôn mới là nông thôn mà ở đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị ngày càng giảm dần. Nông dân có cơ hội để được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 đưa ra mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn 10 Luan van hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.