phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về Quản lý, Quản lý Nhà nước Khái niệm về quản lý Thuật ngữ quản lý có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Theo khoa học quản lý: F.W Taylor (1856-1915) – một trong những ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm khoa học quản lý đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Henrry Fayol (1886- 1925) – ngƣời đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình, quan niệm rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và s dụng có hiệu quả nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Stephan Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và s dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [23, tr. Từ năm 1950 trở lại đây nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết và thực hành quản lý với nhiều cách tiếp cận khác nhau, bao gồm tiếp cận theo kinh nghiệm; theo hành vi quan hệ cá nhân; tiếp cận theo lý thuyết quyết định; tiếp cận toán học; tiếp cận theo các vai trò quản lý.Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhƣ: 8 - Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua những nỗ lực của ngƣời khác.
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả cách hoạt động của những ngƣời cộng sự cùng chung một tổ chức. - Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đƣợc những mục đích của tổ chức. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Khái niệm về quản lý nhà nước Theo ngh a rộng: Quản lý nhà nƣớc là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp và tƣ pháp) để thực thi quyền lực Nhà nƣớc, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Theo ngh a hẹp: Quản lý nhà nƣớc chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời theo pháp luật, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc. Đồng thời các cơ quan nhà nƣớc còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nƣớc nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước [23, tr. Khái niệm về quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Khái niệm về nông thôn Theo Điều 1 Thông tƣ số 54/2009/TT-NNPTNT ngày 21/8/2009 thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Theo từ điển tiếng Việt thì định ngh a nông thôn là khu vực dân cƣ tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị. Nhƣ vậy khi đƣa khái niệm nông thôn ngƣời ta thƣờng xem xét sự khác biệt giữa nó với đô thị. Có nhiều quan điểm khác nhau về sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị nhƣng chủ yếu tập trung vào 3 đặc trƣng sau: - Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì đô thị đặc trƣng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp, giai cấp khác nhau nhƣ tƣ sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức… còn đối với nông thôn thì đặc trƣng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp nhƣ địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công, buôn bán nhỏ… - Về l nh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trƣng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra còn có các l nh vực khác nhƣ dịch vụ, thƣơng nghiệp… còn đối với nông thôn thì đặc trƣng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp. - Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: nông thôn thƣờng gắn với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã, đô thị gắn với lối sống thị dân với những đặc trƣng riêng.
Đặc trƣng này có rất nhiều khía cạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn: từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời ống tinh thần, phong tục, tạp quán, hệ giá trị, chuẩn mực hành vu… đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt, kinh tế… ngay cả đến hệ thống đƣờng sá, năng lƣợng, nhà ở, đều nói lên đây là hai cộng đồng có các khía cạnh văn hóa, lối sống khác biệt nhau [22, tr. Khái niệm về nông thôn mới 10 Khái niệm nông thôn mới dù xuất hiện từ rất sớm, nhƣng đã có sự thay đổi và hoàn thiện, bổ sung nhiều mặt, từ chỗ là một khái niệm đơn lẻ thuần túy về quy hoạch, còn lý thuyết và mơ hồ, trở thành một khái niệm toàn diện bao quát và đƣợc cụ thể hóa tới mức có thể đo lƣờng đƣợc. Nông thôn mới trƣớc tiên phải là nông thôn nhƣng khác với nông thôn truyền thống. Trong đó: Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị; nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản l nh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; nền kinh tế phát triển toàn diện, bền vững; cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị; giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đƣợc giữ vững; đặc biệt, ở nông thôn mới nông dân và cộng đồng dân cƣ sinh sống ở khu vực nông thôn chính là chủ thể triển khai và trực tiếp thụ hƣởng kết quả của chƣơng trình xây dựng nông thôn mới.
Nông thôn mới theo Quyết định số 69/QĐ-BNN-VPĐP, ngày 09 tháng 11 năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những đặc trƣng: “Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao nhanh và bền vững; nông thôn phát triển theo quy hoạch, có hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài; môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy; chất lượng hệ thống chính trị cơ sở được nâng cao. Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Theo Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa 11 X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông thôn mới đƣợc hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ. Trong nền kinh tế nông thôn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế phân theo vùng lãnh thổ - nông thôn nơi tạo ra vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trống trọt và sản phẩm chăn nuôi - những sản phẩm thiết yếu của đời sống xã hội. Tóm lại, từ thuật ngữ quản lý theo ngành, khái niệm QLNN đối với xây dựng nông thôn mới, đƣợc hiểu nhƣ sau: Quản lý nhà nước đổi với kinh tế nông thôn mới là hoạt động sắp xếp tổ chức, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.
của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương đổi với lĩnh vực nông nghiêp, nông thôn trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế nông thôn để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong nhân dân, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Bộ tiêu chí đánh giá xây dựng nông thôn mới Mục đích của bộ tiêu chí là căn cứ để đánh giá xây dựng chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; là cơ sở pháp lý để chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới; là cơ sở để kiểm tra, đánh giá, công nhận xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới. Đối với địa phƣơng, đây chính là cơ sở phục vụ cho công tác chỉ đao, định hƣớng, thực thi, lƣợng giá các chỉ tiêu về thực thi nông thôn mới, bởi đây là bộ quy chuẩn đã đƣợc “thao tác hóa”. đây cũng chính là “thƣớc đo” mà ngƣời dân dùng để kiểm định, đánh giá về khả năng và mức độ hoàn thành tiến độ xây dựng nông thôn mới trên chính địa phƣơng mình cƣ trú.