Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đảng và Nhà nước Việt Nam từ lâu xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực cho sự phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương cấp huyện, công tác quản lý nhà nước (QLNN) về văn hoá vẫn còn nhiều bất cập: hệ thống thiết chế văn hoá nhỏ lẻ, một số phong trào văn hoá mang tính hình thức, ngân sách đầu tư chưa tương xứng. Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn — địa phương miền núi phía Bắc có nhiều giá trị văn hoá đặc sắc của các dân tộc thiểu số — là trường hợp điển hình cho tình trạng đó: quản lý văn hoá còn thiếu thống nhất, chưa đầu tư đúng mức, ảnh hưởng đến việc xây dựng đời sống văn hoá cho người dân.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận QLNN về văn hoá và chỉ ra thực trạng QLNN về văn hoá tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, đề tài đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác này trên địa bàn huyện.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm ba nhiệm vụ được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hoá cơ sở lý luận của QLNN về văn hoá.
  2. Tìm hiểu, phân tích thực trạng QLNN về văn hoá tại huyện Chi Lăng, xác định nguyên nhân của các mặt hạn chế.
  3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cụ thể để nâng cao chất lượng QLNN về văn hoá trên địa bàn huyện.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: QLNN về văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
  • Thời gian: Từ năm 2021 đến thời điểm thực hiện khóa luận (2023).
  • Không gian: Địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết từ các khái niệm nền tảng sau:

  • Quản lý nhà nước: Được tiếp cận theo Giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia (2006): "QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực NN đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của NN trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa."
  • Văn hoá: Tiếp cận theo định nghĩa của Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) và quan niệm của Hồ Chí Minh, trong đó văn hoá là toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người tạo nên hệ thống giá trị, truyền thống và thị hiếu xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
  • QLNN về văn hoá: Là sự tác động liên tục, có tổ chức và chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình nhằm phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Các văn bản pháp luật chủ yếu được tác giả sử dụng làm cơ sở lý luận bao gồm: Điều 60 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 28, 49, 56); Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình; Quyết định 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 về quy chế nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011; Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hoá thể thao cơ sở giai đoạn 2013–2020 định hướng đến năm 2030; Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT về quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh đến năm 2020; Chỉ thị số 32/2008/BVHTTDL về đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá VHTTDL; Quyết định số 3470/QĐ-BVHTTDL ngày 9/10/2019 về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú lần thứ 3 năm 2021.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc loại nghiên cứu lý luận – thực tiễn kết hợp khảo sát thực địa, sử dụng các phương pháp sau:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiếp cận hệ thống lý thuyết về quản lý, quản lý văn hoá; phân tích, tổng hợp, đối sánh các văn bản luật và dưới luật, các công trình khoa học đã công bố.
  • Phương pháp phỏng vấn: Gặp gỡ, trao đổi với các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và người dân địa phương để thu thập thông tin thực tiễn về công tác QLVH.
  • Phương pháp khảo sát, quan sát, điền dã, mô tả, so sánh, thống kê: Phỏng vấn cán bộ QLVH và di sản, cư dân địa phương; tham gia các hoạt động văn hoá tổ chức tại địa phương; quan sát thực tế để tìm hiểu nhu cầu hưởng thụ văn hoá và hạn chế trong công tác quản lý.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo của Phòng Văn hoá – Thông tin huyện Chi Lăng, các văn bản hành chính của UBND huyện (trong đó riêng 9 tháng đầu năm 2022 UBND huyện ban hành 129 văn bản, Phòng VH-TT ban hành 263 văn bản), Niên giám thống kê năm 2015, tài liệu khảo sát thực địa và các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả đi trước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về văn hoá

Chương đầu tiên thiết lập toàn bộ nền tảng lý luận cho khóa luận. Tác giả định nghĩa và phân tích bốn nhóm nội dung cốt lõi:

Một là, các khái niệm cơ bản về quản lý, QLNN, văn hoá và QLNN về văn hoá — được tiếp cận từ nhiều nguồn học thuật và pháp lý.

Hai là, đối tượng, đặc điểm và vai trò của QLNN về văn hoá. Đối tượng QLNN về văn hoá theo nghĩa hẹp (phù hợp phạm vi bài khóa luận) bao gồm: di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật và nhiếp ảnh, quyền tác giả, thư viện, quảng cáo, văn hoá quần chúng, và quản lý dịch vụ văn hoá (karaoke, vũ trường...). QLNN về văn hoá có các đặc điểm nổi bật: mang tính nghệ thuật và khoa học; tính thống nhất trong đa dạng; tính dân chủ và nhân văn sâu sắc; phân cấp từ trung ương đến cấp xã với UBND cấp xã là chủ thể trực tiếp.

Ba là, nội dung QLNN về văn hoá gồm: (1) Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về văn hoá; (2) Tổ chức thực thi các chính sách về văn hoá; (3) Quản lý thiết chế văn hoá; (4) Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát. Thẩm quyền QLNN về văn hoá cấp huyện thuộc UBND huyện, được quy định tại Điều 28, 49, 56 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Bốn là, cơ sở thực tiễn — bài học kinh nghiệm từ ba huyện miền núi phía Bắc tương đồng với Chi Lăng:

Địa phương Kinh nghiệm nổi bật
Huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng Thành lập 17 chi hội bảo tồn dân ca tại 17 xã, thị trấn; thực hiện Dự án bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc Lô Lô với tổng mức đầu tư 5 tỷ đồng
Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Quản lý tốt các lễ hội dân tộc (Lễ hội Xuống đồng, Khô Già Già, Pút Tồng); bài trừ hủ tục mê tín trong việc cưới, tang
Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Thành lập câu lạc bộ hát Then, đàn Tính; bảo tồn nguyên bản làn điệu Then đồng thời chuyển thể lời mới

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn

Khái quát địa bàn: Huyện Chi Lăng là huyện miền núi phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, tổng diện tích tự nhiên 70.421,9 ha. Dân số 76.110 người (Niên giám thống kê năm 2015), trong đó 67,45% sống ở nông thôn; cơ cấu dân tộc: Nùng 48,9%, Tày 34%, Kinh 16%, dân tộc khác 1,1%. Giai đoạn 2021–2023, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,06%; GRDP bình quân đầu người năm 2021 đạt 28 triệu đồng. Huyện có gần 120 điểm di tích lịch sử, di tích khảo cổ và danh thắng, trong đó 52 điểm thuộc quần thể DTLS Chi Lăng được xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1962.

Bộ máy quản lý văn hoá: Phòng Văn hoá – Thông tin huyện Chi Lăng gồm 6 biên chế (1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng, 4 chuyên viên). Mỗi xã, thị trấn có 1 công chức văn hoá; trong tổng số 20 cán bộ công chức văn hoá xã, chỉ có 7/20 có trình độ Đại học, 13/20 chỉ đạt trình độ Cao đẳng.

Kết quả công tác QLNN về văn hoá theo từng lĩnh vực:

Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật: Huyện ủy Chi Lăng ban hành Kế hoạch số 99/KH-HU ngày 9/3/2022 thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TU về bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử Chi Lăng giai đoạn 2021–2025. Kế hoạch phát triển du lịch (số 132/KH-UBND) được phê duyệt ngày 22/01/2022. Kế hoạch số 57/KH-BCĐ ngày 26/12/2022 về phong trào TDĐKXDĐSVH huyện Chi Lăng năm 2023.

Xây dựng nguồn lực: Kinh phí Nhà nước cấp năm 2022 là 922,3 triệu đồng (từ nhiều nguồn: sự nghiệp văn hoá, phong trào TDĐKXDĐSVH, công tác gia đình, du lịch). Năm 2022 toàn huyện có 80/136 cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu cơ quan, đơn vị văn hoá.

Quản lý thiết chế văn hoá: Toàn huyện có 157 nhà văn hoá thôn, 20 xã và thị trấn, 1 sân vận động huyện, 1 thư viện, 1 nhà trưng bày chiến thắng Chi Lăng. UBND huyện đã khởi công xây dựng 9 nhà văn hoá thôn; 157 nhà văn hoá thôn trong đó 150 đã thực hiện trích đo, còn 7 nhà chưa trích đo; chỉ có 1 thôn (thôn Nà Canh, xã Bằng Mạc) có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Quản lý di sản và lễ hội truyền thống: Huyện quản lý 4 lễ hội truyền thống (Lễ hội Đình Làng Mỏ – TT. Đồng Mỏ, 7/1 âm lịch; Lễ hội truyền thống Hang Ví – Xã Chiến Thắng, 20/1 âm lịch; Ngày hội văn hoá thể thao các dân tộc – Xã Vân Thuỷ, 23/1 âm lịch; Hội Vạn Linh – Xã Vạn Linh, 2/2 âm lịch). Lượng khách đến huyện Chi Lăng 9 tháng đầu năm 2022 đạt 93.900 lượt, đạt 268% so với chỉ tiêu kế hoạch năm (35.000 lượt). Doanh thu dự kiến gần 23,5 tỷ đồng. Phòng VH-TT đã hoàn thành gắn biển tên cho 46 điểm di tích; có 12 ban quản lý di tích tại 12 điểm di tích tín ngưỡng.

Quản lý dịch vụ văn hoá: Toàn huyện có 40 cơ sở karaoke đang hoạt động; 45 cơ sở kinh doanh văn hoá phẩm; hơn 30 đoàn nghệ thuật thực hiện hơn 150 buổi biểu diễn tại các thị trấn và làng mạc từ năm 2021 đến thời điểm khảo sát.

Quản lý thể dục thể thao: Toàn huyện có 67 đơn vị trường học; 100% trường phổ thông thực hiện chương trình giáo dục thể chất nội bộ; trên 99% học sinh được đánh giá, xếp loại theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; 100% cán bộ chiến sĩ quân đội, công an đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực. Năm 2022, số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên ước đạt 30% tổng dân số (tương đương khoảng 24.000 người/gần 80.000 số dân); số gia đình luyện tập TDTT ước đạt khoảng 20% số hộ gia đình. Câu lạc bộ Bóng bàn huyện tham gia giải tỉnh năm 2022 đạt 5 huy chương (1 HC Vàng, 3 HC Bạc, 1 HC Đồng).

Thanh tra, kiểm tra, giám sát: Từ năm 2021 đến năm 2023, Phòng VH-TT tham mưu UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra liên ngành định kỳ 4 lần/năm và đột xuất 8 lần/năm. Kết quả: lập biên bản 250 trường hợp vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt 26 doanh nghiệp với tổng số tiền phạt 96 triệu đồng; nhắc nhở 85 đối tượng cung cấp dịch vụ văn hoá, xử phạt 5 đối tượng với tổng số tiền 26 triệu đồng.

Hạn chế được xác định gồm sáu nhóm chính: nhận thức chưa đầy đủ của một số cấp ủy về vai trò văn hoá; chính sách nghệ nhân dân gian chưa được chú trọng (huyện Chi Lăng chưa có nghệ nhân nào được Nhà nước công nhận); đội ngũ cán bộ văn hoá thiếu cả số lượng và chất lượng chuyên môn; cơ sở hạ tầng tuyên truyền còn thô sơ; quản lý dịch vụ văn hoá (đặc biệt quyền tác giả) chưa nghiêm túc; kiểm tra chưa nhất quán, xử lý vi phạm chưa nghiêm.


Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng

Chương này trình bày quan điểm chỉ đạo của Đảng (Đại hội lần thứ XIII: "Phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần"), định hướng của huyện Chi Lăng theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXIII nhiệm kỳ 2020–2025, và năm nhóm giải pháp cụ thể (xem mục Kết quả và đóng góp).


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Các kết quả thực tiễn đáng chú ý có số liệu cụ thể từ văn bản:

Lĩnh vực Kết quả cụ thể
Ban hành văn bản 9 tháng đầu năm 2022: UBND huyện ban hành 129 văn bản, Phòng VH-TT ban hành 263 văn bản
Du lịch – di sản Lượng khách 9 tháng đầu năm 2022 đạt 93.900 lượt (268% chỉ tiêu), doanh thu dự kiến 23,5 tỷ đồng
Xử lý vi phạm 250 trường hợp lập biên bản; phạt 26 doanh nghiệp (96 triệu đồng); phạt 5 đối tượng cung cấp dịch vụ (26 triệu đồng)
Nhà văn hoá thôn 9 nhà văn hoá thôn đã khởi công xây dựng; 99 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp được công nhận "đạt chuẩn văn hoá" 5 năm liên tục (2017–2021)
TDTT 30% dân số (khoảng 24.000 người) luyện tập thường xuyên; 100% học sinh tham gia rèn luyện thể chất nội khóa
Tham gia TDTT thanh niên Trên 80% thanh niên tham gia phong trào TDTT

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

Tác giả đề xuất năm nhóm giải pháp chính:

  1. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của văn hoá và QLNN về văn hoá — bao gồm tuyên truyền thường xuyên cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý văn hoá các cấp.

  2. Mở rộng tiêu chí phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian: Nới lỏng tiêu chí, xem xét phong tặng cả cho những người trẻ có đóng góp cống hiến; bổ sung chính sách ưu đãi phi tiền mặt như trợ cấp bảo hiểm y tế, thăm hỏi khi ốm đau, mời tham dự sự kiện đặc biệt của huyện.

  3. Xây dựng, hoàn thiện thể chế làm công cụ quản lý văn hoá: Thể chế hoá quan điểm của Đảng về văn hoá; đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức văn hoá; trao quyền chủ động cho cấp xã trong sắp xếp nhân sự văn hoá để giảm tải cho công chức văn hoá xã hiện đang kiêm nhiệm quá nhiều mảng.

  4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm: Phân loại công việc, lập kế hoạch kiểm tra chi tiết theo từng loại dịch vụ; xử lý kịp thời, nghiêm minh, đồng bộ vi phạm trong lĩnh vực VH-TT; tạo kênh phản ánh, khiếu nại trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp.

  5. Tăng cường các hoạt động quản lý văn hoá: Đẩy mạnh xã hội hoá thiết chế văn hoá; duy trì trò chơi dân gian trong lễ hội; khôi phục làng nghề thủ công truyền thống; tổ chức lễ hội truyền thống của dân tộc Giáy, Dao; thành lập các câu lạc bộ và lớp dạy học về điệu hát dân gian.

Đóng góp so với nghiên cứu trước

Tác giả tự nhận xét đây là đề tài chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về QLNN về văn hoá một cách toàn diện trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Các nghiên cứu trước đây (Hoàng Văn Tầm, 2011 về xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; Vương Mai Luận, 2016 về lễ hội Đình Làng Mỏ) chỉ tập trung vào một lĩnh vực cụ thể hoặc một sự kiện đơn lẻ, chưa bao quát toàn bộ nội dung QLNN về văn hoá ở cấp huyện.

Về ý nghĩa lý luận, kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo về hành chính và quản lý công.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế mà văn bản đề cập:

Tác giả thừa nhận phạm vi thực tiễn còn bị giới hạn trong một huyện cụ thể và một giai đoạn ngắn (từ 2021). Do công tác QLNN về văn hoá mang tính động và đa chiều, một số vấn đề tồn tại "không thể giải quyết trong một sớm một chiều" mà cần sự đồng bộ của nhiều giải pháp và sự phối hợp của nhiều cấp. Cụ thể, tình trạng quản lý lỏng lẻo một số thiết chế văn hoá (như nhà văn hoá "đóng cửa" dai dẳng), kinh doanh băng đĩa không chính thống, và việc thực thi quyền tác giả trong dịch vụ văn hoá đòi hỏi thời gian và nguồn lực đủ mạnh mới có thể khắc phục triệt để.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở ra từ phạm vi nghiên cứu: so sánh hệ thống QLNN về văn hoá giữa các huyện miền núi phía Bắc có cấu trúc dân tộc thiểu số tương tự; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xã hội hoá thiết chế văn hoá cấp xã; hoặc đánh giá tác động của phong trào TDĐKXDĐSVH đối với chất lượng đời sống văn hoá người dân trong giai đoạn dài hơn.


Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Quản lý Nhà nước, Quản lý Hành chính công, Quản lý Văn hoá: Phần Chương 1 cung cấp hệ thống khái niệm cơ bản, nội dung và đặc điểm QLNN về văn hoá ở cấp huyện; phần cơ sở thực tiễn với ba huyện so sánh (Bảo Lạc, Bát Xát, Chợ Mới) là mô hình tham chiếu có giá trị cho các đề tài cùng loại ở địa phương khác.
  • Sinh viên và học viên nghiên cứu về văn hoá các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc: Phần mô tả đặc trưng văn hoá huyện Chi Lăng (lễ hội, hát Then, hát sli, hát lượn, múa xiêng tâng, kiến trúc...) và thực trạng bảo tồn di sản là tư liệu điền dã trực tiếp từ địa phương.
  • Cán bộ làm công tác văn hoá cấp huyện, xã: Phần giải pháp và kiến nghị (Chương 3) bao gồm các đề xuất cụ thể về mở rộng tiêu chí phong tặng nghệ nhân, xây dựng thể chế, tăng cường thanh kiểm tra — có thể ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn địa phương tương tự.
  • Người nghiên cứu du lịch văn hoá gắn với di sản địa phương: Số liệu về lượt khách, doanh thu và các tuyến du lịch di tích đã hình thành tại Chi Lăng là cứ liệu cụ thể cho nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Huyện Chi Lăng đang quản lý những lễ hội truyền thống nào và tổ chức vào thời điểm nào trong năm?

Theo thông tin từ Phòng Văn hoá – Thông tin huyện Chi Lăng, huyện đang quản lý 4 lễ hội: Lễ hội Đình Làng Mỏ (thị trấn Đồng Mỏ, ngày 7/1 âm lịch); Lễ hội truyền thống Hang Ví (xã Chiến Thắng, 20/1 âm lịch); Ngày hội văn hoá thể thao các dân tộc (xã Vân Thuỷ, 23/1 âm lịch); và Hội Vạn Linh (xã Vạn Linh, 2/2 âm lịch). Đặc biệt, Lễ hội Đình Làng Mỏ sau hơn 45 năm bị thất truyền đã được phục dựng lại để giáo dục thế hệ trẻ hướng về nguồn cội.

2. Tại sao huyện Chi Lăng đến nay vẫn chưa có nghệ nhân dân gian nào được Nhà nước công nhận danh hiệu, và giải pháp được đề xuất là gì?

Văn bản xác định nguyên nhân chủ yếu là tiêu chí phong tặng còn bất hợp lý: độ tuổi đạt danh hiệu quá cao nên rất ít người còn sống; một số nghệ nhân tuổi đã già, sức yếu, không thể tiếp tục cống hiến và truyền dạy. Tác giả đề xuất nới lỏng tiêu chí, phong tặng cả cho những người trẻ có quá trình cống hiến thực sự, đồng thời bổ sung chính sách ưu đãi phi tiền mặt như bảo hiểm y tế và mời tham dự các sự kiện đặc biệt của huyện.

3. Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng trong giai đoạn 2021–2023 cụ thể như thế nào?

Từ năm 2021 đến 2023, đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành định kỳ 4 lần/năm và đột xuất 8 lần/năm. Kết quả: lập biên bản 250 trường hợp vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt 26 doanh nghiệp với tổng tiền phạt 96 triệu đồng về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá; riêng về cung cấp dịch vụ văn hoá, nhắc nhở 85 đối tượng và xử phạt 5 đối tượng với tổng tiền phạt 26 triệu đồng.

4. Số liệu về du lịch di sản huyện Chi Lăng trong giai đoạn nghiên cứu cho thấy xu hướng gì?

Lượng khách đến huyện Chi Lăng trong 9 tháng đầu năm 2022 (tính đến ngày 8/10/2022) đạt 93.900 lượt, vượt xa chỉ tiêu kế hoạch năm đề ra từ đầu năm (chỉ tiêu 35.000 lượt), tức đạt 268% kế hoạch. Doanh thu dự kiến gần 23,5 tỷ đồng. Trước đó (năm 2018), huyện đã xây dựng hai tuyến du lịch kết nối các khu di tích và ghi nhận hơn 100.000 lượt du khách (trong đó hơn 3.500 khách quốc tế). Các số liệu này cho thấy du lịch di sản của huyện có tốc độ tăng trưởng nhanh sau khi đầu tư hạ tầng kết nối điểm đến.

5. Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác văn hoá ở cơ sở tại huyện Chi Lăng hiện ra sao?

Phòng VH-TT huyện Chi Lăng gồm 6 biên chế, trong đó có 1 Trưởng phòng, 1 Phó phòng và 4 chuyên viên — lãnh đạo phòng thường xuyên thay đổi do luân chuyển, nghỉ hưu. Ở cấp xã, mỗi xã và thị trấn chỉ có 1 công chức văn hoá, song trong tổng số 20 người, chỉ 7/20 có trình độ Đại học, 13/20 chỉ đạt Cao đẳng; hầu hết không được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ và phải kiêm nhiệm thêm mảng lao động – chính sách, gây quá tải trong thực thi nhiệm vụ.


Kết luận

Khóa luận "Quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn" của sinh viên Chu Minh Thiện (Học viện Hành chính Quốc gia, 2023) là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về QLNN văn hoá ở địa phương này, bao quát từ cơ sở lý luận, thực trạng đến định hướng và giải pháp. Trên cơ sở khảo sát thực địa và phân tích tài liệu, tác giả chỉ ra những thành tựu cụ thể — đặc biệt trong quản lý di sản, tổ chức lễ hội và kiểm tra vi phạm — đồng thời nhận diện sáu nhóm hạn chế cốt lõi về nhân lực, thể chế, cơ sở hạ tầng và chính sách nghệ nhân dân gian. Năm nhóm giải pháp đề xuất hướng đến cải thiện toàn diện công tác QLNN về văn hoá ở cấp huyện, từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế đến tăng cường thanh kiểm tra và xã hội hoá hoạt động văn hoá tại cơ sở.