Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hải Dương là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Hải Dương với lịch sử hình thành hơn 200 năm, sở hữu diện tích tự nhiên 7.138,6 ha và quy mô dân số xấp xỉ 25 vạn người phân bố trên 21 đơn vị hành chính gồm 17 phường và 4 xã. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhu cầu sáng tạo và thụ hưởng văn hóa tinh thần của người dân ngày càng gia tăng, đòi hỏi hệ thống thiết chế văn hóa công lập phải đổi mới phương thức vận hành. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của các loại hình dịch vụ giải trí thương mại, công tác quản lý hoạt động văn hóa tại Trung tâm Văn hóa - Thông tin thành phố Hải Dương đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là tình trạng thiếu trụ sở làm việc độc lập và nguồn kinh phí tổ chức còn eo hẹp.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý các hoạt động văn hóa chuyên môn của Trung tâm Văn hóa - Thông tin thành phố Hải Dương, nhận diện những thành tựu nổi bật và các mặt hạn chế còn tồn đọng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý thiết chế trong giai đoạn mới. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn thành phố Hải Dương và khung thời gian kéo dài 11 năm từ năm 2007 khi đơn vị được thành lập chính thức theo Quyết định số 1087/QĐ-UBND đến năm 2018.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học giúp cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện cơ chế điều hành, góp phần nâng cao tỷ lệ khu dân cư văn hóa từ 77,9% lên mức cao hơn và duy trì vững chắc tỷ lệ 92% gia đình văn hóa trên toàn địa bàn, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn văn hóa đô thị phục vụ mục tiêu xây dựng thành phố trở thành đô thị loại I trước năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thuyết Quản lý theo khoa học của F.W. Taylor và trường phái Quản lý theo quy trình của Henri Fayol với 5 chức năng then chốt bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm soát nguồn lực. Bên cạnh đó, đề tài quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa qua Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 và Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014 khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển bền vững đất nước.

Hệ thống khái niệm cơ bản được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: Quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu định trước; Hoạt động văn hóa là quá trình sáng tạo, bảo tồn, phân phối và thụ hưởng các giá trị vật chất cùng tinh thần; Quản lý nhà nước về văn hóa là việc sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực văn hóa; Thiết chế Trung tâm Văn hóa - Thông tin được định vị là đơn vị sự nghiệp công lập tổng hợp, đa chức năng, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị - giáo dục tư tưởng ngoài nhà trường, vừa tổ chức các dịch vụ văn hóa đáp ứng nhu cầu giải trí và rèn luyện kỹ năng của quần chúng nhân dân theo quy định tại Thông tư 01/2010/TT-BVHTTDL và cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn kiện của Đảng, văn bản pháp quy của Nhà nước như Nghị quyết 19-NQ/TW, Thông tư liên tịch 46/2016/TTLT-BTC-BVHTTDL và báo cáo tổng kết giai đoạn 2007-2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương. Dữ liệu sơ cấp được xác lập thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu và ghi nhận thực tế hoạt động.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 120 đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý, viên chức nghiệp vụ thuộc Trung tâm, cán bộ phụ trách văn hóa của 21 xã, phường cùng các hạt nhân nòng cốt của các câu lạc bộ sở thích. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm chủ thể tham gia quản lý và thụ hưởng văn hóa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp và tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Văn hóa học và Xã hội học là để giải quyết thấu đáo bản chất đa chiều của một thiết chế văn hóa cơ sở, nơi vừa chịu sự chi phối của quy luật quản trị hành chính công, vừa vận hành theo quy luật tâm lý tiếp nhận và sáng tạo nghệ thuật của cộng đồng dân cư.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt kết quả rất tích cực. Tỷ lệ khu dân cư có nhà văn hóa đạt 99,6%, tỷ lệ khu dân cư văn hóa đạt 77,9%, cơ quan văn hóa đạt trên 90% và tỷ lệ gia đình văn hóa năm 2017 đạt 92%. Kết quả này có sự đóng góp trực tiếp từ các chính sách đòn bẩy tài chính của địa phương như Nghị quyết số 39/NQ-HĐND năm 2005 hỗ trợ 50 triệu đồng cho mỗi nhà văn hóa và Nghị quyết số 121/2009/NQ-HĐND nâng mức hỗ trợ lên 100 triệu đồng cho một nhà văn hóa thôn, khu dân cư.

Thứ hai, hoạt động tuyên truyền cổ động chính trị và văn nghệ quần chúng duy trì tần suất ổn định. Đội Tuyên truyền lưu động thành phố đã thực hiện định mức từ 100 đến 120 buổi diễn mỗi năm theo đúng quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BVHTTDL. Bên cạnh đó, công tác phối hợp tổ chức các giải đấu và hội diễn đã góp phần đưa phong trào thể dục thể thao quần chúng thành phố giành 2.005 huy chương các loại trong giai đoạn 2011-2015, giữ vững vị trí dẫn đầu toàn tỉnh.

Thứ ba, cơ sở vật chất của Trung tâm gặp nhiều bất cập nghiêm trọng do lịch sử di chuyển trụ sở công tác qua 4 địa điểm khác nhau, từ số 30 Trần Hưng Đạo sang số 2 Hoàng Hoa Thám, tiếp đó chuyển đến số 139 Bạch Đằng và từ năm 2014 đặt tại số 106 Trần Hưng Đạo trong khuôn viên chung với Ủy ban nhân dân thành phố. Việc thiếu hội trường chuyên biệt và phòng chức năng làm suy giảm đáng kể khả năng tổ chức các hoạt động dịch vụ văn hóa có thu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế tự chủ tài chính một phần theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP chưa đi liền với điều kiện bảo đảm hạ tầng. Nguồn thu từ dịch vụ văn hóa của đơn vị chỉ chiếm tỷ trọng ước tính dưới 15% tổng chi phí thường xuyên, khiến đơn vị vẫn lệ thuộc hơn 85% vào ngân sách cấp. So sánh với các mô hình Trung tâm Văn hóa tại quận Ba Đình và quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội, thiết chế tại thành phố Hải Dương phát huy tốt vai trò phong trào nhưng lại chậm chân trong việc thương mại hóa lành mạnh các dịch vụ văn hóa giải trí.

Các dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tương quan tỷ lệ đạt chuẩn văn hóa giữa 17 phường đô thị và 4 xã nông nghiệp, kết hợp bảng ma trận SWOT phân tích 5 nguồn lực quản trị gồm nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, thể chế và chuyên môn nghiệp vụ. Bảng đối sánh này làm rõ rằng điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở nhu cầu của 25 vạn người dân mà nằm ở năng lực khai thác không gian vật chất của đơn vị quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết chế: Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương cần phê duyệt cấp quỹ đất độc lập với diện tích từ 3.000 đến 5.000 m2 để xây dựng trụ sở mới cho Trung tâm Văn hóa - Thông tin thành phố, trang bị hội trường 500 chỗ ngồi và hệ thống âm thanh, ánh sáng hiện đại trước năm 2022.

Thứ hai, tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Ban Giám đốc Trung tâm xây dựng đề án vị trí việc làm theo Thông tư số 14/2012/TT-BNV và tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, bảo đảm 100% cán bộ nghiệp vụ đạt trình độ đại học chuyên ngành Quản lý văn hóa hoặc Nghệ thuật biểu diễn, đồng thời tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên môn mỗi năm cho đội ngũ cán bộ văn hóa của 21 xã, phường trong giai đoạn 2019-2023.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn thu thông qua đẩy mạnh xã hội hóa: Đơn vị chủ động xây dựng phương án liên kết với các doanh nghiệp, mở rộng các lớp đào tạo năng khiếu nghệ thuật, câu lạc bộ thể thao thẩm mỹ và tổ chức sự kiện truyền thông, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp lên mức 30% đến 35% tổng ngân sách hoạt động thường niên vào năm 2025.

Thứ tư, đổi mới phương thức tuyên truyền cổ động và bảo tồn di sản: Nâng chỉ tiêu biểu diễn lưu động lên 130 đến 150 buổi mỗi năm, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ truyền thông số, đồng thời phát triển từ 15 lên 25 câu lạc bộ văn hóa văn nghệ tự quản tại cơ sở nhằm bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc như hát chèo, ca trù và hát trống quân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại các Phòng Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa cấp huyện, thị xã, thành phố trong cả nước có thể sử dụng luận văn làm cẩm nang thực tiễn để tháo gỡ các nút thắt về cơ chế tự chủ tài chính và sắp xếp tổ chức bộ máy.

Nhóm 2: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, phường và các chủ nhiệm nhà văn hóa thôn, khu dân cư tìm thấy các bài học kinh nghiệm thiết thực để duy trì chỉ tiêu 99,6% nhà văn hóa hoạt động hiệu quả và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Văn hóa, Văn hóa học có nguồn tư liệu tham khảo giá trị với chuỗi dữ liệu thực chứng 11 năm và khung lý thuyết quản lý thiết chế văn hóa được xây dựng chuẩn mực.

Nhóm 4: Các nhà hoạch định chính sách công và cán bộ quản lý đô thị có cơ sở dữ liệu thực tế để thiết kế quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở đồng bộ, phục vụ tiêu chí nâng cấp đô thị và xây dựng nông thôn mới bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến Trung tâm Văn hóa - Thông tin thành phố Hải Dương phải chuyển trụ sở 4 lần là gì? Quá trình di dời liên tục xuất phát từ các đợt điều chỉnh quy hoạch quỹ đất công của địa phương, nổi bật là việc bàn giao trụ sở cũ tại số 30 Trần Hưng Đạo cho tổ chức tín dụng. Việc phải tạm trú tại Nhà Thiếu nhi, số 139 Bạch Đằng và số 106 Trần Hưng Đạo khiến đơn vị thiếu mặt bằng biểu diễn độc lập, hạn chế năng lực phục vụ 25 vạn người dân thành phố.

Chính sách hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn, khu dân cư của tỉnh Hải Dương đã tác động như thế nào đến phong trào cơ sở? Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 39/NQ-HĐND năm 2005 hỗ trợ 50 triệu đồng mỗi công trình, sau đó ban hành Nghị quyết số 121/2009/NQ-HĐND nâng mức hỗ trợ lên 100 triệu đồng. Nguồn vốn kích cầu này đã tạo động lực cho nhân dân đóng góp kinh phí, đưa tỷ lệ khu dân cư có nhà văn hóa đạt mức ấn tượng 99,6%.

Tại sao đơn vị gặp nhiều khó khăn khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP? Mặc dù đã có tư cách pháp nhân và tài khoản riêng, Trung tâm không có cơ sở vật chất kinh doanh như hội trường lớn, sân khấu ngoài trời hay phòng tập chức năng riêng biệt. Doanh thu từ dịch vụ chỉ chiếm dưới 15% tổng chi phí, buộc đơn vị tiếp tục phụ thuộc tới hơn 85% vào định mức phân bổ từ ngân sách nhà nước.

Đội Tuyên truyền lưu động thành phố tổ chức hoạt động theo các tiêu chuẩn định mức nào? Đội vận hành theo Thông tư số 20/2014/TT-BVHTTDL và Thông tư liên tịch 46/2016/TTLT-BTC-BVHTTDL, duy trì ổn định từ 100 đến 120 buổi tuyên truyền lưu động mỗi năm. Hoạt động tập trung vào cổ động trực quan, tiểu phẩm sân khấu và lồng ghép các làn điệu nghệ thuật dân gian như chèo, ca trù để tuyên truyền các sự kiện chính trị tại 21 xã, phường.

Sự khác biệt căn bản giữa quản lý hoạt động văn hóa tại chỗ và ngoài trung tâm là gì? Quản lý tại chỗ tập trung vào triển khai văn bản pháp lý, tổ chức phòng đọc sách báo, mở lớp năng khiếu và điều hành các câu lạc bộ sở thích nội bộ. Trong khi đó, quản lý ngoài trung tâm chú trọng tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ 21 xã, phường, phối hợp tổ chức hội diễn quần chúng và tham mưu kiểm tra công nhận 77,9% khu dân cư văn hóa.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động văn hóa tại thiết chế Trung tâm Văn hóa - Thông tin cấp huyện trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng giai đoạn 2007-2018 với điểm sáng là 99,6% khu dân cư có nhà văn hóa và 92% hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa.
  • Nhận diện trực diện điểm nghẽn về hạ tầng do di chuyển qua 4 địa điểm làm việc và tỷ trọng nguồn thu tự chủ dịch vụ chỉ đạt dưới 15%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, trọng tâm là cấp đất 3.000 đến 5.000 m2 để xây dựng trụ sở mới và nâng tỷ trọng tự chủ lên 30% đến 35% vào năm 2025.
  • Cung cấp nguồn tài liệu khoa học hữu ích phục vụ công tác tập huấn nghiệp vụ và hoạch định chính sách phát triển văn hóa đô thị loại I.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng hoàn thành đề án vị trí việc làm và sắp xếp bộ máy theo Nghị quyết 19-NQ/TW trong giai đoạn 2019-2022. Kính mời các nhà khoa học, nhà quản lý và bạn đọc quan tâm tiếp cận toàn văn công trình để khai thác các số liệu chi tiết và áp dụng vào thực tiễn quản lý văn hóa cơ sở.