Chương 1 NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA Ở TRUNG TÂM VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM VĂN HÓA - THÔNG TIN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 1. Những vấn đề chung 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một vấn đề đã được các học giả nghiên cứu từ rất lâu, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều khác biệt trong cách hiểu và dẫn đến có rất nhiều học giả trong và ngoài nước đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý.
Trong cuốn Giáo trình Khoa học quản lý 1, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ, Hà Nội của tác giả Phạm Quang Lê (2007), đã đưa ra trích dẫn khái niệm quản lý của F.w Taylor và của Henry Fayol.w Taylor (1856-1915), ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, khai sinh ra khoa học quản lý, ông cũng là ông tổ của “Quản lý theo khoa học”, khi tiếp cận ở góc độ về kinh tế và kỹ thuật, ông cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [29, tr. Theo Henry Fayol (1841-1925), ông là người đầu tiên nghiên cứu, tiếp cận quản lý theo quy trình, cũng là người có tầm nhìn, có sự ảnh hưởng lớn từ thời cận hiện đại cho đến nay, ông đã nghiên cứu và định nghĩa về quản lý: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch tố chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [29, tr. Theo từ điển tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa: 1. Tổ chức, điều khiển, theo dõi thực hiện những chính sách, đường lối của Nhà nước (Quản lý thị 11 trường, quản lý xí nghiệp); 2.
Giữ gìn và sắp xếp (Quản lý hồ sơ, lý lịch, quản lý thư viện). Nếu hiểu theo âm Hán Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc. Trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý qua các công trình nghiên cứu và giáo trình về khoa học quản lý ở nước ta. Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan trong quá trình lao động xã hội, nó bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động.
Quản lý là một hoạt động nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Do vậy, quản lý diễn ra ở tất cả các tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn. Hoạt động quản lý ra đời là nhằm đến hiệu quả và năng xuất cao hơn trong công việc. Như vậy, có thể hiểu quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định ra.
Mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Do đó, nội hàm khái niệm quản lý được hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách có định hướng, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc thay đổi tình trạng hiện hữu. Hoạt động quản lý luôn có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả.
Theo tác giả, trong xã hội đang ngày một phát triển, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức khoa học xã hội, khoa học tự nhiên… Quản lý luôn được gắn liền với kế hoạch chính xác, rõ ràng, để hướng tới mục tiêu thông qua những thể chế xã hội nhất định. Để quản lý tốt, người quản lý phải nắm chắc chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phải luôn tìm tòi học hỏi những cái mới để bắt kịp với xã hội 12 hiện nay. Ngoài ra, người quản lý cũng cần phải có uy tín của người lãnh đạo, phải có một cái nhìn tổng thể và có trách nhiệm phát hiện, khai thác các khả năng, tiềm năng của con người để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực mình đang quản lý. Hoạt động văn hóa Hoạt động VH là các hoạt động mang tính sáng tạo, đáp ứng nhu cầu không chỉ vật chất mà còn tinh thần của con người và làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cũng đã khẳng định: "Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình" [15]. Hoạt động VH là hoạt động gắn với quá trình sáng tạo, lưu giữ, truyền bá và thưởng thức những sản phẩm văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện con người. Hoạt động VH là một bộ phận của hoạt động xã hội bao gồm các hoạt động nhằm vào sự đáp ứng nhu cầu hưởng thụ VH của con người. Các hoạt động văn hóa phổ biến như: Hoạt động sáng tác các tác phẩm nghệ thuật, biểu diễn nghệ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống, đó là hoạt động sản xuất văn hoá; các hoạt động của bảo tàng, thư viện lưu trữ những sản phẩm văn hoá của nhân loại, đó là hoạt động bảo quản văn hoá; hoạt động khai trí - giáo dục, truyền thụ kiến thức cho thế hệ tương lai, thuyết trình, biểu diễn trước công chúng.
đó là sự phân phối văn hoá; các hoạt động trao đổi VH như: thảo luận, toạ đàm tại CLB, tham dự các lễ hội, hội thi, hội diễn; hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa thông qua các thiết chế VH: Công chúng tham dự các buổi chiếu phim, xem biểu diễn nghệ thuật, đọc sách báo, xem triển lãm, bảo tàng, hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí; các hoạt động tham quan du lịch, hoạt động lễ hội, thờ cúng thực hành tín ngưỡng, xây dựng phong tục, nếp sống gia đình VH. Lê Quý Đức thì: “việc công chúng biết đến các thiết chế văn hóa sử dụng các dịch vụ văn hóa thỏa mãn nhu cầu văn hóa cần được xem là hoạt động văn hóa thuộc đời sống văn hóa” [11, tr. Hoạt động VH bồi dưỡng những phẩm chất về năng lực thẩm mỹ, ngăn chặn và khắc phục những hiện tượng tiêu cực của xã hội, VH phẩm xấu độc hại ảnh hưởng tới đời sống con người. Hoạt động VH là những hoạt động mang tính chất giúp con người lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt nhọc, là những cuộc mít tinh, hoạt động ngoại khóa, cuộc thi, hội diễn, mang tính chất thuần phong mỹ tục, những cái đẹp, hay hoạt động đời sống hàng ngày của con người.
VH nghệ thuật là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng VH, là động lực xây dựng chính trị, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp. Có thể hiểu hoạt động VH là những hoạt động của con người nhằm tác động vào những yếu tố cấu thành nên VH bao gồm lĩnh vực: vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử của mình, để lại dấu ấn từng thời đại, từng quốc gia, dân tộc. Các hoạt động VH phải nhằm xây dựng nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giáo dục nếp sống lành mạnh và phong cách ứng xử có VH cho mọi người; kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục; nâng cao hiểu biết và trình độ thẩm mỹ, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân; ngăn chặn và bài trừ những sản phẩm VH có nội dung độc hại; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [12]. Trong các Văn kiện của Đảng đã chỉ rõ mọi hoạt động VH đều phải nhằm vào việc xây dựng con người Việt Nam mới phát triển toàn diện.
Để thực hiện mục tiêu đó, mọi hoạt động VH trong xã hội phải biết tận dụng, phát huy tất cả các giá trị VH. Việc làm này cần có sự chỉ đạo, quản lý từ Trung ương đến địa phương, từ những đơn vị chức năng đến toàn thể xã hội. Chính vì vậy, người cán bộ làm công tác quản lý VH cần phải có năng lực quản lý và tổ chức các hoạt động VH tại cơ sở. Quản lý hoạt động văn hóa Để hiểu quản lý hoạt động VH trước hết chúng ta cần tìm hiểu về quản lý nhà nước về VH.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức (2013) nêu trong tập Quản lý nhà nước về văn hóa, tập bài giảng chương trình cao học, Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội: “Quản lý nhà nước về văn hóa là sử dụng quyền lực của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa”. Quản lý nhà nước về VH là quá trình tác động có tổ chức đến các hoạt động VH. Quản lý nhà nước về VH đòi hỏi phải giới hạn ở một phạm vi hẹp và trong những hoạt động cụ thể. Quản lý nhà nước về VH ở các quốc gia trên thế giới hầu như khác nhau, các mô hình quản lý phụ thuộc vào điều kiện lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội của từng nước.
Ví dụ: các nước úc, Mỹ, Đức thường có xu hướng phân chia quyền lực cho các tiểu bang, còn ở Việt Nam quản lý nhà nước trên lĩnh vực VH được thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bên cạnh đó có cả bộ phận chuyên ngành quản lý VH trực thuộc Bộ VHTTDL. Trong cuốn Quản lý hoạt động VH của tập thể tác giả, tác giả Hoàng Sơn Cường đưa ra khái niệm quản lý VH như sau: “Quản lý văn hoá là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [28, tr. Từ khái niệm đó, ta có thể xác định được một số đặc điểm của quản lý VH, đó là: khái niệm VH rộng, đa nghĩa nên quản lý VH không chỉ quản lý các vật hữu hình mà còn quản lý những cái vô hình như tình cảm xã hội, tư tưởng con người.