Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ & KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM VĂN HOÁ - THÔNG TIN VÀ THỂ THAO HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động văn hóa 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Quản lý xã hội, đảm bảo cho xã hội một trạng thái có trật tự, là nhiệm vụ của mọi nhà nước.
Khi loài người có những hoạt động mang tính cộng đồng đòi hỏi có sự tham gia cuat nhiều người thì tất yếu xuất hiện nhu cầu có sự tổ chức, điều hành, tức cần có sự quản lý. Về vấn đề này, C.Mác có viết: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý nhiều hay ít. Theo Mác, sự quản lý này là để phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn cơ thể sản xuất. Mác ví sự cần thiết của hoạt động quản lý như sự điều khiển của người nhạc trưởng trong một dàn nhạc: “một nhạc công tự mình điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Như vậy, bất kỳ một hoạt động nào có sự tham gia của một số đông người với quy mô tương đối lớn thì đều cần có sự quản lý nhằm duy trì trạng thái ổn định, có trật tự đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của mọi thành viên và toàn xã hội. Bởi lẽ, theo Ăngghen thì “trật tự xã hội là một quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi quyền khác”. Từ đó có thể nói quản lý là một tất yếu xuất phát từ nhu cầu tự thân trong hoạt động tập thể của con người. Và cũng từ đây cho thấy con người đã thực hiện hoạt động quản lý và cũng đã tìm cách giải thích thuật ngữ “quản lý” từ xa xưa.
Do đó, trong lịch sử đã tồn tại nhiều quan niệm cũng như cách giải thích khác nhau về quản lý, xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau. Từ góc độ khoa học quản lý, quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra [4, tr. Văn hoá Khái niệm văn hóa hiện nay đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, đến nay đã có khoảng 500 định nghĩa về văn hóa do các nhà nghiên cứu, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới đưa ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới, lúc sinh thời Bác đã đưa ra khái niêm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [7, tr.431] Định nghĩa trên, Bác đã xác định văn hóa bao gồm những thành quả của sự sáng tạo về cả phương diện vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của loài người và văn hóa không chỉ là sự sáng tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sáng tạo đó. GS Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [11, tr. Như vậy, có thể hiểu văn hóa trong cách nhìn hệ thống văn hóa là phản ảnh điểm nhìn của một cộng đồng dân tộc về thế giới vật chất, nhận thức điều kiện tự nhiên, môi trường sống xung quanh và những quy tắc ứng xử của cộng đồng tương ứng với nó.
Trong một không gian sinh tồn, các dân tộc, các cộng đồng người phải vượt qua sự cản trở của các thế lực tự nhiên và cả xã hội để tồn tại và phát triển, có cả những thích ứng, thích nghi, biến đổi để hòa nhập. Chính quá trình thích nghi này tạo nên những nét đặc thù, điểm khác biệt, hình thành bản sắc của cộng đồng, tổ chức xã hội ở phạm vi hẹp hay ở phạm vi quốc gia dân tộc. Khái niệm này tác giả vận dụng trong nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn các hoạt động văn hóa do đơn vị tổ chức, 8 Luan van đồng thời lấy đó là cơ sở căn cứ để cho nhân dân sáng tạo và hưởng thụ văn hóa theo đúng nghĩa văn hóa là của dân nhân, phục vụ nhân dân và theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Quản lý văn hoá Để hiểu quản lý hoạt động văn hóa trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái quát về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về văn hóa Thuật ngữ Quản lý nhà nước được dùng khá phổ biến cho nhiều lĩnh vực khác nhau và với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Do dưới góc độ khoa học quản lý, có thể hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ “hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [4, tr. Đây là sự giải thích một cách khái quát nhất về thuật ngữ quản lý nhà nước. Sự giải thích này đã chỉ ra được bản chất của hoạt động quản lý nhà nước (hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước), mục đích quản lý (nhằm ổn định và phát triển đất nước). Quản lý nhà nước về văn hóa là quá trình tác động có tổ chức đến các hoạt động văn hóa.
Quản lý nhà nước về văn hóa đòi hỏi phải giới hạn văn hóa ở một phạm vi hẹp và trong những hoạt động cụ thể. Thiết chế, thiết chế văn hoá và trung tâm văn hoá. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Với tinh thần đó, có thể hiểu quản lý văn hoá như sau: “quản lý văn hoá là một quá trình sử dụng đồng bộ các công cụ với cách thức tác động phù hợp lên đối tượng quản lý, nhằm phát huy sự sáng tạo văn hoá, bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc và hiện đại”. Thiết chế, thiết chế văn hoá và trung tâm văn hoá 1.
Thiết chế, thiết chế văn hóa Trong Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý quan niệm: “Thiết chế” như “thể chế” là: “lập nên” hay “tạo dựng nên”. Khái niệm này chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội Thiết chế là những tụ điểm, là một trung tâm, hay một cơ quan; tổ chức các hoạt động có mục đích tuyên truyền giáo dục về một tư tưởng, lĩnh vực nào đó phục vụ công tác chính trị tư tưởng hay nghiên cứu khoa học kỹ thuật - lịch sử văn hóa nghệ thuật, được tổ chức theo những quy chế, nội quy nhất định, được thể chế hóa pháp luật do nhà nước ban hành, được xã hội công nhận và tuân thủ, có mục đích, yêu cầu và những chức năng riêng được xã hội quy định. 538] Nhờ các thiết chế mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng. Về mặt tổ chức, thiết chế xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân.
Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức. Đó là phong tục, tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội. Đồng thời các thiết chế xã hội đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng. Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX.
Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế đó. Thiết chế nhà văn hóa bao gồm: ngôi nhà, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa. [3] Thiết chế văn hóa là một tổ chức xã hội ra đời nhằm nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người; gồm một số thành tố cơ bản có liên kết với nhau 10 Luan van chặt chẽ. Một thiết chế văn hóa cần có 4 yếu tố sau: Có bộ máy nhân sự được tổ chức chặt chẽ; Có cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ hoạt động; Có luật, lệ để vận hành; Có những hoạt động cụ thể, thường xuyên và có công chúng tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa.
Để hiểu rộng ra thì Thiết chế văn hóa gồm: Thiết chế quản lý văn hóa; Thiết chế hoạt động văn hóa phục vụ cộng đồng; Thiết chế hội đoàn văn hóa. Thiết chế quản lý văn hóa là các tổ chức văn hóa nằm trong hệ thống cơ quan định hướng (Đảng) và cơ quan quản lý ở 4 cấp: Trung ương, Thành phố, huyện, xã.