phần Mở đầu và Kết luận, đề tài có bố cục gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1- Cơ sở lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nƣớc về ứng dụng công nghệ thông tin. Chƣơng 2 - Thực trạng quản lý nhà nƣớc về ứng dụng công nghệ thông tin tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3 - Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về ứng dụng công nghệ thông tin tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng trong thời gian tới. 7 n Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.
Khái niệm quản lý nhà nƣớc về ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm quản lý nhà nước Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tƣơng đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng quản lý”. Nhƣ vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý nhà nƣớc là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, 3 chức năng cơ bản của QLNN, đó là: (1) chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; (2) chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nƣớc đảm nhiệm; (3) chức năng tƣ pháp do cơ quan tƣ pháp thực hiện. Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nƣớc là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, Quản lý hành chính nhà nƣớc là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nƣớc, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà 8 n nƣớc trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con ngƣời và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở tiến hành để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc.
Nếu tiếp cận khái niệm QLNN dƣới góc độ này, Quản lý nhà nƣớc bao gồm có 2 chức năng cơ bản: (1) Lập quy đƣợc thực hiện bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hƣớng dẫn thực hiện pháp luật; (2) Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế – xã hội để đƣa luật pháp vào đời sống xã hội. Khái niệm công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lƣu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Từ khi CNTT ra đời đã có những chuyển dịch đáng kể về công nghệ. Những chuyển dịch này làm cho việc xử lý thông tin tự động hiệu quả hơn, việc sử dụng các thiết bị tin học dễ dàng hơn, năng lực xử lý thông tin mạnh hơn và tin học, CNTT đƣợc ứng dụng rộng rãi hơn vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Những chuyển dịch đó chủ yếu là: từ kỹ thuật tƣơng tự sang kỹ thuật số; từ công nghệ bán dẫn truyền thống sang công nghệ vi xử lý; từ kiểu tính toán trên máy chủ sang mô hình có cấu trúc khách hàng - dịch vụ; từ các kiểu truyền thống dải rộng sang các siêu xa lộ thông tin; từ lập trình thủ công sang lập trình hƣớng đối tƣợng; từ giao diện đồ họa sang giao diện đa phƣơng tiện. Khái niệm Công nghệ Thông tin đƣợc hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. 9 n Công nghệ thông tin đã ngày càng đóng vai trò quan trọng, là một nhân tố thúc đẩy đối với thành công trong công cuộc đổi mới của Việt Nam. Việt Nam coi CNTT là một trong những lĩnh vực ƣu tiên, đặt nền móng cho những đột phá về phát triển trong lĩnh vực công nghệ cao nói riêng, công cuộc hiện đại hóa nói chung.
Khái niệm quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin QLNN về ứng dụng CNTT là việc nhà nƣớc sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phát huy hiệu quả cao nhất của ứng dụng CNTT vào hoạt động của tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả của các hoạt động này. Đó là việc xây dựng tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực về ứng dụng CNTT, ban hành các chủ trƣơng chính sách và các quy định, quy chuẩn kỹ thuật về ứng dụng CNTT, để đảm cho bảo ứng dụng CNTT phát huy hiệu quả cao nhất nhằm phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng và thúc đẩy cải cách hành chính. Cùng với đó là việc xây dựng và ban hành các kế hoạch tổng thể về ứng dụng CNTT, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT. Nội dung, đặc điểm, nguyên tắc của quản lý nhà nƣớc về ứng dụng công nghệ thông tin 1.
Nội dung Theo Luật số 67/2006/QH11 của Quốc hội nội dung QLNN về CNTT quy định quản lý về hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT. Nội dung QLNN về CNTT gồm các nội dung sau: 10 n Thứ nhất, Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách ứng dụng và phát triển CNTT. Thứ hai, Xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực CNTT. Thứ ba, Quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT.
Thứ tư, Tổ chức quản lý và sử dụng tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Thứ năm, Quản lý và tạo điều kiện thúc đẩy công tác hợp tác quốc tế về CNTT. Thứ sáu, Quản lý, đào tạo, bồi dƣỡng và phát triển nguồn nhân lực CNTT. Thứ bảy, Xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực CNTT.
Thứ tám, Xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định về việc huy động nguồn lực CNTT phục vụ quốc phòng, an ninh và các trƣờng hợp khẩn cấp theo quy định. Thứ chín, Quản lý thống kê về CNTT. Thứ mười, Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực CNTT. QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN không nằm ngoài các nội dung QLNN về CNTT nói chung.
Đồng thời công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN cũng có các đặc thù riêng: Thứ nhất, Tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về công nghệ thông tin. Tổ chức bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN là việc xây dựng bộ máy quản lý, chỉ đạo, điều hành, hƣớng dẫn ứng dụng CNTT cũng nhƣ vận hành, khai thác các hệ thống thông tin và cơ sở hạ tầng CNTT. Khác với bộ máy QLNN đối với lĩnh vực CNTT, bộ máy QLNN về ứng dụng CNTT hiện nay còn có một cấp trung gian, đó là Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT các cấp. 11 n Thứ hai, Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách ứng dụng CNTT.
Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách ứng dụng và phát triển CNTT là một trong những nội dung quan trọng trong công tác QLNN về ứng dụng CNTT. Công tác quy hoạch phát triển CNTT giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và định hƣớng để phát triển CNTT, nhằm mục đích nâng cao vai trò QLNN đối với lĩnh vực CNTT, ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cải cách hành chính Nhà nƣớc, nâng cao hiệu quả hoạt động của CQNN, từng bƣớc xây dựng chính quyền điện tử, cung cấp các dịch vụ công. Nó tạo cơ sở để CQNN đầu tƣ ứng dụng CNTT theo đúng định hƣớng. Kế hoạch ứng dụng CNTT, giúp CQNN có hƣớng đầu tƣ đúng đắn các ứng dụng CNTT, trên cơ sở đánh giá thực trạng để đƣa ra các giải pháp tổ chức thực hiện.
Nó bao gồm kế hoạch từng giai đoạn (thƣờng là 5 năm), kế hoạch hàng năm, kế hoạch phát triển từng lĩnh vực cụ thể (kế hoạch phát triển hạ tầng, kế hoạch xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, kế hoạch ứng dụng…). Cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về ứng dụng CNTT là nội dung không thể thiếu đƣợc đối với công tác QLNN về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, đó là các chính sách về ƣu tiên ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT góp phần tích cực cho công tác cải cách hành chính, hiện đại hoá nền hành chính hƣớng tới Chính phủ điện tử. Thứ ba, Xây dựng quy chế, quy định và tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT. Để ứng dụng CNTT trong CQNN hoạt động mang lại hiệu quả cao cần xây dựng và ban hành các quy định, quy chế về tổ chức và hoạt động ứng dụng CNTT nhƣ quy định về đầu tƣ cho ứng dụng CNTT; quy chế quản lý và vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT; quy chế hoạt động và cung cấp thông tin.