Chương 1 trình bày cơ sở lý luận và tổng quan chung về vấn đề nghiên cứu; Chương 2 trình bày chi tiết các phương pháp 11 nghiên cứu được sử dụng trong luận văn với kết quả cuối cùng là xây dựng bảng khảo sát để thu thập số liệu; Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát và phân tích số liệu. Phần thứ ba là kết luận và khuyến nghị. Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ TỔG QUA CHUG Chương này tập trung vào việc nghiên cứu một số khái niệm cơ bản làm cơ sở lý luận để xây dựng công cụ đo lường những yếu tố liên quan ảnh hưởng đến năng lực ứng dụng CITT trong HĐDH của GV.
Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước các nội dung có liên quan đến luận văn. Phân tích nội dung các công trình nghiên cứu liên quan để phát hiện các điểm mạnh, điểm còn tồn tại của các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng cũng như phạm vi nghiên cứu nhằm khẳng định hướng nghiên cứu đúng đắn của luận văn. Đồng thời qua đó khai thác được những nội dung phù hợp phục vụ việc triển khai nghiên cứu của tác giả. MỘT SỐ KHÁI IỆM CƠ BẢ 1.
Công nghệ thông tin và ứng dụng CTT Theo Từ điển Bách khoa Việt N am [16], công nghệ thông tin (CN TT) là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lí thông tin. Theo nghĩa đó, CITT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kĩ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người. Theo N ghị quyết 49/CP của Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 08 năm 1993 thì “Công nghệ thông tin (CN TT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội.” N ghị định 64/2007/N Đ-CP giải thích Ứng dụng CITT trong hoạt động của cơ quan nhà nước: là việc sử dụng CN TT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước 13 nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đNy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch. Luật CN TT [1] đưa ra cách giải thích cho các thuật ngữ CN TT và ứng dụng CN TT: + Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. N hìn chung, các quan điểm, giải thích đều phù hợp với cách giải thích thuật ngữ ở Luật CN TT nêu trên, và thuật ngữ CN TT còn bao hàm nội dung truyền thông trong đó. Tóm lại, Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin. Hoạt động dạy học và ứng dụng CTT trong HĐDH Theo giáo dục học, HĐDH là hoạt động tương tác hai chiều giữa người dạy và người học; HĐDH là hoạt động trí tuệ, hoạt động nhận thức; với tư cách là một hệ thống, thì là HĐDH một chỉnh thể, có cấu trúc gồm nhiều thành tố tương quan nhau trong một môi trường xác định.52-60] Với tham luận tại hội thảo khoa học “Ứng dụng CN TT vào dạy học” - tổ chức vào ngày 28/03/2009 tại Hà Tĩnh, tác giả N guyễn Trí Hiệp [23] đã viết: “Để ứng dụng CITT trong nâng cao chất lượng dạy và học, cần đảm bảo các yêu cầu: chu\n về nhận thức, chu\n về kỹ năng, chu\n về cơ sở hạ tầng, chu\n về phương tiện ứng dụng.
Trong đó đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh yếu tố chu\n về kỹ năng ứng dụng CITT của người thầy giáo.” 14 N gày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học-kỹ thuật, CN TT và truyền thông, thì HĐDH cũng được công nghệ hóa. Một cách khái quát có thể coi công nghệ dạy học là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích dạy học với hiệu quả cao. Và với quan điểm công nghệ dạy học, thì nhiệm vụ của HĐDH chủ yếu gồm: - Truyền đạt kiến thức cho người học; - Kích thích hứng thú say mê tìm tòi nghiên cứu; - Trau dồi văn hoá, khả năng lao động trí óc cho người học; - Trau dồi quan điểm và niềm tin.17] Tóm lại, Ứng dụng CITT trong HĐDH là việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong HĐDH với mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy học. ăng lực và năng lực ứng dụng CTT trong HĐDH Theo Từ điển Bách khoa Việt N am [16], năng lực (N L) là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.
IL gắn liền với những ph\m chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. IL có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là b\m sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). Từ điển Tiếng Việt của Viện N gôn ngữ học, N L được hiểu theo hai nghĩa: + N ăng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. + N ăng lực là phNm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Các tác giả N guyễn Quang UNn, Trần Hữu Luyến và Trần Quốc Thành cho rằng: “Iăng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với các yêu 15 cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả” [17, tr. Các tác giả còn phân biệt N L chung và N L riêng: N L chung là N L cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả. N L riêng (N L chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phNm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với hiệu quả cao. Tóm lại, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực, nhưng hầu hết đều thống nhất: năng lực bao gồm các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan thuộc về cá nhân, tích hợp với nhau đáp ứng yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao.
Và kết hợp hai khái niệm năng lực và ứng dụng CN TT trong HĐDH ta có: ILUD CITT trong HĐDH bao gồm các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan thuộc về cá nhân, tích hợp với nhau dẫn đến mức độ thành thạo sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong HĐDH, đảm bảo cho hoạt động dạy học đạt kết quả cao. TỔG QUA CHUG 1. Sơ lược tình hình ứng dụng CTT trong HĐDH Với từ khóa “ICT in Education” (ICT viết tắt của cụm từ: Information and Communications Technology: Công nghệ Thông tin và Truyền thông), trang tìm kiếm thông tin vào hàng lớn nhất hiện nay – Google, đã trả về không ít hơn 145.000 kết quả; và với cụm từ “CN TT trong giáo dục” kết quả trả về xấp xỉ 600.000; thu hẹp tìm kiếm với “Ứng dụng CN TT trong giáo dục” cũng đạt xấp xỉ 500. Các số liệu trên phần nào minh chứng cho sự quan tâm lớn lao của cộng đồng đến phạm trù CN TT trong giáo dục ở cả phạm vi quốc tế lẫn trong nước.
N hưng khi thu hẹp phạm vi tìm kiếm với thuật ngữ: “N ăng lực ứng dụng CN TT trong hoạt động dạy học”, tác giả chỉ thu được rất ít kết quả được đưa lên internet, trong đó nội dung nghiên cứu gần nhất là đề tài của TS. Bắt đầu phát triển từ thập niên 70 của thế kỷ trước, CN TT ngày nay đã trở thành nền tảng quan trọng trong chiến lược quốc gia nhằm thúc đNy sự phát triển mọi mặt của kinh tế-xã hội của hầu khắp các nước trên thế giới. Trong 2 năm 2003 và 2004, tổ chức UN ESCO đã thực hiện dự án về ứng dụng ICT trong giảng dạy: năm 2003 đề cập đến phương thức đào tạo, chương trình đào tạo cho giáo viên ở vùng châu Á-Thái Bình Dương và các vấn đề liên quan đến ứng dụng ICT trong việc đào tạo; năm 2004 cung cấp các bài học và kinh nghiệm thực tế trong việc ứng dụng ICT vào việc giảng dạy của 6 nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, South Korea và Thailand.