mở đầu của đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động đầu tư xây dựng CSHT đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp từng thời kỳ phát triển, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế chung, tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng CSHT là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên lực lượng sản xuất ngày càng có trình độ cao hơn. Tất cả các ngành kinh tế chỉ có thể tăng trưởng nhanh, nếu có đầu tư xây dựng, đổi mới kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Nhờ có vốn đầu tư xây dựng mà ngày càng có nhiều các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, nhà ở để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhờ có các nguồn vốn đó (đặc biệt là nguồn vốn trong nước), mà quy mô đầu tư cho các ngành, lĩnh vực, các vùng, đặc biệt các vùng khó khăn đều được tăng. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng đã được hoàn thành và đang triển khai. Vai trò của vốn đầu tư thông qua chính sách đầu tư đúng đắn có ý nghĩa quan trọng, không ngừng góp phần mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả mà còn khuyến khích đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế, từ đó làm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả cao hơn.
Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng a) Nguồn vốn trong nước - Nguồn vốn nhà nước bao gồm 3 bộ phận: 13 + Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Đây là nguồn vốn được lấy từ ngân sách nhà nước, quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc vào các khoản thu từ hoạt động kinh tế của đất nước mang lại, trong điều kiện kinh tế phát triển thì nguồn thu vào ngân sách nhà nước cao, ngược lại khi kinh tế bị suy thoái, lạm phát cao, tình hình kinh doanh gặp khó khăn thì rất khó khăn cho ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước dùng để chi tiêu cho các hoạt động của Nhà nước như chi cho hệ thống quản lý Nhà nước, chi quốc phòng an ninh và các hoạt động kinh tế của Nhà nước khác… Đặc biệt, ngân sách nhà nước có vai trò hết sức quan trọng thông qua việc đầu tư vào hạ tầng cơ sở, chi cho quản lý của Nhà nước và các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng, đô thị và nông thôn…tạo cơ sở để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế, ổn định xã hội. Tuy nhiên, do ngân sách nhà nước bị giới hạn, các khoản chi ngày càng nhiều cho nên chỉ một số hạng mục, công trình quan trọng thì mới được ưu tiên sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước, còn các khoản đầu tư kinh tế xã hội khác thì phải huy động từ khu vực tư nhân. + Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Nguồn vốn này có đặc điểm là phải mang tính hoàn trả, không có sự bao cấp của Nhà nước.
Chủ đầu tư là người vay vốn từ Nhà nước, phải tính kỹ hiệu quả sử dụng vốn để sau khi thời hạn sử dụng phải hoàn trả cho Nhà nước cả gốc và lãi. Thông qua cho các chủ thể trong nền kinh tế vay để đầu tư xây dựng CSHT, Nhà nước còn thực hiện công tác quản lý và điều tiết vĩ mô, khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô đây chính là thực hiện mục tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
14 + Nguồn vốn từ các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này được lấy từ các doanh nghiệp mà Nhà ước có vốn góp chi phối, nguồn này bao gồm từ lợi nhuận giữ lại của các doanh nghiệp, vốn ban đầu từ Nhà nước,…nguồn vốn này đã đóng góp rất lớn vào tổng nguồn vốn cho đầu tư xây dựng CSHT. - Nguồn vốn tư nhân: Bao gồm nguồn vốn tích lũy của dân cư và các doanh nghiệp. Nếu xã hội chỉ dựa vào nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển xã hội thì không đủ, cần có các nguồn vốn khác đó chính là khu vực tư nhân. Nguồn vốn này có đặc điểm là thuộc sở hữu riêng của các chủ thể trong nền kinh tế, do các chủ thể đó quyết định việc sử dụng.
b) Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Thứ nhất, vốn FDI (Foreign Direct Investment): là nguồn vốn do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đồng thời tổ chức điều hành, quản lý. Thứ hai, vốn ODA (Official Development Assistance): là vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. Nguồn vốn này thường dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của chính phủ, Trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Nguồn vốn này phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế, được đại diện thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết.
Hiệp định ký kết hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế. Thứ ba, nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức tài chính quốc tế: Nguồn vốn này không có các ưu đãi lớn như vốn ODA nhưng lại không gắn liền với các điều kiện về chính trị - xã hội. Để tiếp cận được nguồn vốn này thì thủ tục tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất thường cao, 15 ngoài ra còn có các điều kiện vay vốn khác bất lợi cho nước vay vốn, các tổ chức tài chính trên thế giới có thể cung cấp nguồn vốn này như IMF, WB, ADB… Thứ tư, nguồn vốn huy động từ thị trường tài chính quốc tế: Thông qua thị trường tài chính quốc tế để có thể thu hút nguồn vốn dài dạn dùng cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như thông qua phát hành trái phiếu quốc tế. Nguồn vốn này có thuận lợi là có thể huy động với khối lượng lớn để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế mà không bị ràng buộc các điều kiện như trong quan hệ tín dụng, bên cho vay khó có thể dùng quan hệ này để gây sức ép cho nước huy động, tạo điều kiện tiếp cận thị trường vốn quốc tế.
Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy thị trường tài chính trong nước phát triển, tính thanh khoản trên thị trường này cao do các công cụ có thể mua đi bán lại để chuyển hóa thành tiền mặt. Tuy nhiên, việc huy động bằng hình thức này cũng gặp phải hạn chế là nếu có hệ số tín nhiệm thấp thì phải chịu lãi suất cao. Thu hút vốn đầu tư Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm tới việc thu hút, khai thác các nguồn vốn đầu tư, làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư. Muốn tăng vốn đầu tư trước hết phải thực hiện tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước cho đầu tư, thứ hai trong nền kinh tế mở, nhất là Việt Nam và các nước đang phát triển nguồn tiết kiệm trong nước chưa đủ đáp ứng cho đầu tư, đòi hỏi phải thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài.
Như vậy thu hút vốn đầu tư có thể hiểu bao gồm cả việc thu hút nguồn tiết kiệm từ trong nước và thu hút nguồn vốn nước ngoài nhằm đạt được một khối lượng vốn đầu tư được xác định. Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được các chính phủ các nước đẩy mạnh thực hiện và thực tế đang diễn ra sự 16 cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền. Không ngừng tăng cường thu hút vốn đầu tư là sự cần thiết khách quan, bởi một số lý do sau: Thứ nhất, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng trưởng kinh tế. Mô hình Harrod - Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng: Mức tăng GDP = vốn đầu tư/ICOR.
Muốn tăng trưởng kinh tế hàng năm với tốc độ cao thì phải tăng mức đầu tư và giảm ICOR xuống hạn chế không tăng. Như vậy thu hút đầu tư là làm cho lượng đầu tư tăng lên góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra thu hút đầu tư thì nhu cầu các yếu tố đầu vào của quá trình đầu tư làm cho sản xuất tại chỗ tăng lên, quá trình đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Thứ hai, thu hút vốn đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối tương quan giữa chung so với một thời điểm trước đó. Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu được hình thành hợp lý. Trên cơ sở cơ cấu kinh tế được xác định cho mỗi thời kỳ, định hướng và các biện pháp thu hút đầu tư cụ thể đối với mỗi ngành làm cho tỷ trọng vốn đầu tư giữa các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả tăng trưởng khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành và ảnh hưởng chung đến tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Cùng với những vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút đầu tư còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.
Định hướng và biện pháp thu hút đầu tư hợp lý còn tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế, và các tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực Nhà 17 nước và khu vực tư nhân. Đầu tư công cộng của Nhà nước phải có tác động lôi kéo, dẫn dắt mà không làm suy giảm, lấn át đầu tư tư nhân. Thứ ba, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng cường khoa học kỹ thuật, công nghệ.