Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. 8 Luan van Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG 1.
Khái niệm về thi đua, khen thƣởng 1. Khái niệm thi đua Quá trình phân công lao động gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trong suốt quá trình phát triển đó, nhiều học giả đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng như các yếu tố tác động trực tiếp tới quan hệ này. Sự hợp tác trong sản xuất là một tất yếu khách quan trong quá trình lao động sản xuất của con người.
Các Mác đã đưa ra quan niệm về thi đua “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng cho từng người” [26]. Bàn về ngày thứ bảy lao động cộng sản V. Lênin đã nói đến thi đua xã hội chủ nghĩa đó là phong trào lao động tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột. Lênin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm.
Khái niệm Thi đua xã hội chủ nghĩa trong quan điểm của V. Lênin là một hình thức hợp tác giữa người với người, góp phần phát triển năng lực của con người, phát triển của tính chủ động sáng tạo của nhân dân lao động và của chế độ dân chủ trong xã hội mới. Thi đua xã hội chủ nghĩa, ra đời trên cơ sở lao động tập thể, trên cơ sở những quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết theo tinh thần đồng chí, nhằm giúp đỡ những người lạc hậu dần dần tiến lên 9 Luan van ngang những người tiên tiến, nâng cao trình độ văn hóa và trình độ sinh hoạt tinh thần của mọi người. Lênin coi thi đua là đòn bẩy mạnh mẽ của tiến bộ kinh tế - xã hội, là trường học giáo dục chính trị lao động và đạo đức cho nhân dân lao động.
Chức năng chủ yếu của thi đua xã hội chủ nghĩa là chức năng kinh tế: nâng cao hiệu suất của sản xuất xã hội, đạt những kết quả cuối cùng cao nhất của nền kinh tế quốc dân, đạt năng suất lao động cao hơn, tổ chức lao động một cách khoa học v. Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Người coi tổ chức thi đua yêu nước là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước tiềm tàng trong mỗi người dân Việt Nam, biến nó thành sức mạnh, thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc. Người khẳng định: hễ là người Việt Nam yêu nước thì phải thi đua, thi đua là yêu nước.
Thi đua là một cách yêu nước thiết thực nhất. Những người thi đua là những người yêu nước nhất. Thi đua phải có mục đích, mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến công tác thi đua.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thi đua tồn tại khách quan trong xã hội, Người dạy “. Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua. Ví dụ: từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở.
Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch sẽ, cho hợp vệ sinh, cho khỏi ốm đau” [27, tr. Thi đua là một hiện tượng khách quan, là quy luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người. Ở đâu có hợp tác lao động thì ở đó nảy sinh thi đua. 10 Luan van Dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, thi đua yêu nước bao giờ cũng là phong trào thi đua tập thể của những công nhân, nông dân, trí thức, những người lao động tự mình làm chủ vận mệnh của mình, không đối kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; mọi người mang hết nhiệt tình và khả năng của mình ra để xây dựng đất nước.
Nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua xã hội chủ nghĩa là đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm; người tiên tiến thân ái giúp đỡ người chậm tiến để đạt tới sự tiến bộ chung. Hoàn toàn không giống với bí mật thương nghiệp trong cạnh tranh. Thi đua xã hội chủ nghĩa chẳng những nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động. Như vậy, thi đua được coi như một công cụ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.
Công tác thi đua được hình thành và gắn liền với những chặng đường lịch sử, đặc biệt khi xã hội đang được xây dựng trong thời kỳ đổi mới, trong cơ chế thị trường. Nhà nước ta ghi nhận tính tất yếu của công tác thi đua trong thời kỳ đổi mới đất nước bằng việc xây dựng và thông qua Luật Thi đua – Khen thưởng năm 2003 và được sửa đổi bổ sung năm 2005, năm 2013. Trong đó chỉ rõ “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30]. Khái niệm khen thưởng Cùng với thi đua, khen thưởng cũng là hoạt động tồn tại khá lâu và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người.
Dưới các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, các hình thức khen thưởng cũng tồn tại dưới các hình thức, giá trị khác nhau tùy thuộc vào bản chất của nhà nước ở trong từng giai đoạn lịch sử. 11 Luan van Ở nước ta, khen thưởng đã được thực hiện từ các triều đại phong kiến trước đây, các hình thức khen thưởng của thời phong kiến đã được Ngô Sỹ Liên nêu rõ trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: - Khen thưởng người có công trong chiến trận - Khen thưởng người có công trong việc đi sứ - Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức - Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài - Khen thưởng người có lời tâu đúng - Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên - Khen thưởng người có công làm thủy lợi - Khen thưởng người có tài văn chương - Khen thưởng người cao tuổi. Qua những hình thức khen thưởng đó cho thấy các triều đình phong kiến ở nước ta chú trọng tới việc khen thưởng để khuyến khích, khích lệ động viên mọi người hăng hái lập công để được khen thưởng. Cũng qua việc hăng hái lập công đó cho thấy được tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc.
Cách đây hơn 600 năm, Nguyễn Trãi cũng đã viết: Nhà nước thưởng nhiều hơn phạt là Nhà nước phồn vinh; nhà nước thưởng, phạt nghiêm minh là nhà nước vững mạnh; nhà nước phạt nhiều hơn thưởng là nhà nước đang suy tàn. Đảng, Bác hồ đã rất quan tâm đến việc biểu dương khích lệ động viên người tốt, việc tốt. Mỗi khi đọc báo, nghe đài, thấy có nghĩa cử đẹp là Bác cho đi kiểm tra ngay để Bác khen thưởng. Bác thường nhắc nhở khen thưởng phải chính xác và kịp thời để động viên phát huy mặt ưu điểm, tích cực, khắc phục và đẩy lùi mặt khuyết điểm, tiêu cực nhằm xây dựng con người mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
12 Luan van Bác Hồ đã dạy “Có công thì thưởng, có lỗi thì phạt, khen thưởng phải có tác dụng giáo dục, động viên, nêu gương .” khen thưởng còn là một chính sách của nhà nước để ghi công, tôn vinh các cá nhân, tập thể có thành tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó, một tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng. Thưởng là tặng cho bằng hiện vật hoặc tiền. Khen thưởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của Nhà nước bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền do luật định.
Như vậy, khen thưởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội. Khen thưởng và trừng phạt được hình thành phát sinh và tồn tại trong quá trình phát triển của con người là vấn đề thuộc tâm lý xã hội, sinh hoạt tinh thần của con người, do đó khen thưởng phải thể hiện quan điểm quần chúng, phải có trách nhiệm cao trong quá trình phát hiện xét khen thưởng. Khen thưởng tồn tại cùng với sự tồn tại của Nhà nước. Còn Nhà nước là còn khen thưởng.
Khen thưởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần và khích lệ bằng vật chất. Trong điều kiện hiện nay, khen thưởng vẫn có vai trò quan trọng là động lực thúc đẩy xã hội phát triển là biện pháp của người quản lý thực hiện nhiệm vụ trọng tâm chính trị của cơ quan đơn vị mình nhằm khuyến khích động viên mọi tầng lớp trong xã hội tích cực hăng hái lập thành tích trong lao động sản xuất và công tác. Luật thi đua, khen thưởng đã nêu rõ “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30]. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng Thi đua và khen thưởng quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động biện chứng lẫn nhau.
Đó là hai mặt của một vấn đề, là hai thành tố hữu cơ của một quá trình đem đến một hiệu quả chung. 13 Luan van Thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân và cộng đồng hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở đó thực hiện khen thưởng. Thi đua là cơ sở của khen thưởng, nếu tổ chức tốt phong trào thi đua thì kết quả khen thưởng cao.