Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH XÂY DỰNG ĐẢNG 1. Các khái niệm cơ bản * Ngành xây dựng Đảng Xây dựng Đảng là một nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân. Xây dựng Đảng từ lâu được đặt ra như một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khi cách mạng gặp khó khăn, xây dựng Đảng để cán bộ, đảng viên củng cố lập trường quan điểm, bình tĩnh, sáng suốt, không tỏ ra bị động, lúng túng, bi quan.
Ngay cả khi đất đang ổn định, trên đà phát triền cũng cần đến xây dựng Đảng để xây dựng những quan điểm, tư tưởng khoa học; ngăn ngừa chủ quan, tự mãn. Như vậy, nhiệm vụ xây dựng Đảng là làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ, hiểu đúng và thực hành tốt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng. Mặt khác, giúp cho cán bộ đảng viên phải nhìn lại mình, phát huy mặt tốt. loại bỏ mặt xấu vốn có trong mỗi con người.
Xây dựng Đảng không thể buông lỏng việc thắt chặt công tác kiểm tra, quản lý cán bộ, đảng viên. Xây dựng Đảng nếu không được đặt đúng vị trí ngang tầm mà lại buông lỏng kiểm soát, quản lý thì rất dễ làm cho một bộ phận cán bộ đảng viên bị thoái hóa, biến chất về đạo đức và lối sống, dẫn đến tha hóa cả về chính trị. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc xây dựng Đảng lại càng phải chú trọng, coi đây là công việc phải tiến hành thường xuyên. Xây dựng Đảng phải đặc biệt tránh tranh giành quyền lực, lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi.
Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc chỉnh đốn và đổi mới để hạn chế, ngăn chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hóa, biến chất gây ra trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền nhà nước. 8 Ngành xây dựng Đảng ra đời như một lẽ tất yếu, dĩ nhiên song song cùng với các ngành khác trong xã hội. Trở thành một ngành được quan tâm nhiều trong giai đoạn hiện nay; thuật ngữ Ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước được đưa ra trong nhiều tài liệu khác nhau, được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Song tựu chung lại theo quan điểm cá nhân, Ngành xây dựng Đảng bao gồm tập hợp các lĩnh vực xây dựng Đảng về chính trị, xây dựng Đảng về tư tưởng, xây dựng Đảng về tổ chức và xây dựng Đảng về đạo đức nhằm mục đích làm cho Đảng ngày một trong sạch, vững mạnh; Đây là nhiệm vụ của toàn bộ cán bộ, Đảng viên và toàn xã hội trong mọi giai đoạn.
* Nguồn nhân lực ngành Xây dựng Đảng “Nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo Trần Khánh Đức thì: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [12, tr. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực, trong đó điểm được đánh giá cao là coi các tiền năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có cơ chế thích hợp trong quản lý và sử dụng.
Nguồn nhân lực theo PGS.TS Nguyễn Tiệp là “nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động 9 vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội” [24, tr. Tuy có những quan niệm khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng các quan niệm về NNL đều đề cập đến các đặc trưng chung là: Số lượng NNL trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng NNL dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực thế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dâm số hay lực lượng lao động do di dân.
Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ,.của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trong trong việc xem xét đánh giá chất lượng NNL. Cơ cấu NNL là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về NNL. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,.
NNL là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. NNL nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, NNL được hiểu là tổng thể nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Với cách hiểu như vậy, nội hàm NNL không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng, mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn, gồm toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Trong lý thuyết về 10 tăng trưởng kinh tế, con người được coi là phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững. NNL cũng được nhìn nhận về khía cạnh số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà còn những người ngoài độ tuổi lao động.
NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó; nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) tức là không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cấu NNL hiện tại, mà còn bao hàm của nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. NNL được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định. NNL là toàn bộ vốn kiến thức, kỹ năng và sức người cần đầu tư vào công việc được thành công. Từ những phân tích trên, xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạng trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực ngành Xây dựng Đảng là tập hợp những người làm công tác xây dựng Đảng trong một tổ chức, có cùng nhiệm vụ chung là thực hiện mục tiêu làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Họ làm việc theo kế hoạch, gắn bó và ràng buộc với nhau. Số lượng cán bộ, đảng viên, người làm việc trong ngành Xây dựng Đảng phụ thuộc vào quy mô phát triển của các tổ chức Đảng, trong đó không thể 11 không kể đến đó là ban Xây dựng Đảng thuộc các huyện, thành ủy, tỉnh ủy các tỉnh, thành phố. Đây là tổ chức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng Đảng tại các địa phương.
* Phát triển nguồn nhân lực ngành Xây dựng Đảng Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực là động lực thúc đẩy sự tiến bộ và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp hóa trước đây cho thầy phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn sản xuất mà là hoàn thiện trong năng lực con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản ly. Khác với đầu tư cho nguồn vốn phi con người, đầu tư cho phát triể con người là vấn đề đa ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, công cộng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung.
Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là tổng thể các hình thức phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng để đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển – xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Phát triển nguồn nhân lực ngành Xây dựng Đảng có thể hiểu là quá trình chuẩn bị lực lượng có đủ các yếu tố cần thiết của đội ngũ công chức ngành Xây dựng Đảng, đội ngũ những người thực hiện những nhiệm vụ theo các chức năng được Đảng giao phó. Quá trình này cần có sự tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ và quản lý, đồng thời sử dụng có hiệu quả đội ngũ này trên cơ sở thực hiện tốt các chính sách tương ứng.