phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về ngoại thƣơng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về ngoại thƣơng trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về ngoại thƣơng. 5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NGOẠI THƢƠNG 1.
Tổng quan quản lý nhà nƣớc về ngoại thƣơng 1. Khái niệm ngoại thương Ngoại thương là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đƣợc thực hiện dƣới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ƣớc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Hoạt động ngoại thƣơng mang một số đặc điểm sau: Thứ nhất, ngoại thƣơng phản ánh quan hệ trao đổi giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh khác nhau của các quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau. Quan hệ đó chỉ có thể duy trì và phát triển trên cơ sở đảm bảo lợ ích chính đáng của nhau.
Thứ hai, giữa các nƣớc có sự khác nhau về nguồn lực và điều kiện sản xuất, nên hao phí lao động và giá thành sản phẩm khác nhau; vì vậy, việc trao đổi hàng hóa - dịch vụ giữa các nƣớc phải dựa trên cơ sở giá cả quốc tế. Thứ ba, tuy việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ là hƣớng ra thị trƣờng nƣớc ngoài, nhƣng ngoại thƣơng là một bộ phận của quá trình tái sản xuất trong nƣớc, nên mọi hoạt động của nó phải xuất phát từ mục tiêu của nền kinh tế. Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lƣu thông hàng hóa giữa trong nƣớc với nƣớc ngoài, chức năng cơ bản của ngoại thƣơng là: Tổ chức chủ yếu quá trình lƣu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trƣờng trong nƣớc với thị trƣờng nƣớc ngoài, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và của nhân dân về hàng hóa theo số lƣợng, chất lƣợng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí ít nhất. 6 Luan van Với tƣ cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thƣơng tham gia quá trình tạo vốn cho mở rộng vốn đầu tƣ trong nƣớc, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đƣợc sản xuất trong nƣớc thích ứng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất - kinh doanh phát triển.
Với tƣ các là một ngành kinh tế đảm nhận khâu lƣu thông hàng hóa giữa trong nƣớc và nƣớc ngoài, thông qua mua bán để nối liền hữu cơ giữa thị trƣờng trong nƣớc với thị trƣờng nƣớc ngoài. Khi thực hiện chức năng của mình, ngoại thƣơng luôn coi giá trị sử dụng là mục đích và giá trị chỉ là phƣơng tiện để đạt mục đích. Tầm quan trọng của ngoại thương Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thƣơng có các vai trò nhƣ sau: - Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tƣ trong nƣớc - Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đƣợc sản xuất trong nƣớc và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy - Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh Ngoại thƣơng thực hiện chức năng lƣu thông hàng hóa giữa trong nƣớc với nƣớc ngoài. Ngoại thƣơng là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, qua đó một nƣớc tham gia vào phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác.
Ngoại thƣơng không chỉ là một nhân tố bổ sung cho kinh tế trong nƣớc, mà còn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nƣớc, thích nghi với lựa chọn phân công lao động tối ƣu, dựa trên cơ sở những lợi thế so sánh. Hoạt động ngoại thƣơng vừa phải khai thác đƣợc mọi lợi thế của hoàn cảnh chủ quan trong nƣớc phù hợp với xu thế phát triển kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thời phải tính toán lợi thế tƣơng đối có thể giành đƣợc 7 Luan van và so sánh điều đó với cái giá phải trả. Những thuận lợi có thể tạo ra đƣợc nhờ tham gia buôn bán và phân công lao động quốc tế thƣờng dân đến việc gia tăng khả năng phụ thuộc bên ngoài. Vì vậy nói đến phát triển ngoại thƣơng và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác là nói đến khả năng liên kết kinh tế, hòa nhập với kinh tế bên ngoài, đòi hỏi khả năng xử lý thành công mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
Quan hệ thƣơng mại của một nƣớc với nƣớc ngoài là sự tiếp tục các quan hệ sản xuất bên trong nƣớc đó. Song nó đƣợc phát triển trong môi trƣờng khác, ở đó thể hiện các quan hệ kinh tế không hoàn toàn giống các quan hệ kinh tế trong nƣớc. Sự phát triển các mối quan hệ thƣơng mại phù hợp với các mối quan hệ trong nƣớc, nhƣng lại mang những đặc điểm khác. Thị trƣờng thế giới và thị trƣờng dân tộc là những phạm trù kinh tế khác nhau.
Vì vậy, các quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể trên thị trƣờng này thực hiện theo những hình thức và phƣơng pháp hoàn toàn không giống nhau. Ngày nay, ngoại thƣơng thế giới có những đặc điểm mới: tốc độ tăng trƣởng của ngoại thƣơng thế giới tăng nhanh so với tốc độ tăng trƣởng của tổng sản phẩm quốc dân. Tốc độ tăng trƣởng của hàng hóa vô hình tăng nhanh so với tốc độ tăng trƣởng hàng hóa hữu hình. Nhu cầu về đời sống vật chất giảm trong khi đó, nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng.
Tỷ trọng xuất khẩu hàng nguyên liệu thô giảm, trong khi đó dầu mỏ, khí đốt và các sản phẩm công nghệ chế biến tăng nhanh. Phạm vi, phƣơng thức và công cụ cạnh tranh của thƣơng mại quốc tế diễn ra ngày càng phong phú và đa dạng: chất lƣợng, giá cả, điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng. Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn lại, hàng hóa có hàm lƣợng khoa học và công nghệ tăng cao. Quá trình thƣơng mại quốc tế đòi hỏi, một mặt phải tự do hóa thƣơng mại, mặt khác phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý.
Ngoại thƣơng Việt Nam cũng ngày càng 8 Luan van phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trƣởng của nền kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế Việt Nam từng bƣớc hội nhập với các nền kinh tế các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.3 Khái niệm và phương pháp quản lý nhà nước về ngoại thương Quản lý Nhà nƣớc (QLNN) nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý Nhà nƣớc, vào các đối tƣợng quản lý, để điều khiển đối tƣợng quản lý, nhằm đạt đƣợc mục đích đã đề ra. Quản lý nhà nước về ngoại thương là việc sự tác động của nhà nƣớc bằng các công cụ và phƣơng pháp thích hợp đến các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế nhằm mục đích thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế dựa vào các lợi thế so sánh của Việt Nam với các nƣớc khác trên thế giới. Trong nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, với sự tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động ngoại thƣơng phải đảm bảo dƣới sự quản lý thống nhất của Nhà nƣớc, vì quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của chính các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thƣơng. Sự quản lý thống nhất đó thể hiện trên các mặt sau: - Nhà nƣớc là ngƣời duy nhất ban hành các chính sách và giải thích các chính sách ngoại thƣơng.
Các chính sách này bắt nguồn từ các bộ luật đã đƣợc Quốc hội thông qua hoặc bắt nguồn từ các hiệp định mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các nƣớc hay tổ chức quốc tế. - Chính phủ thông qua các cơ quan chức năng của mình kiểm soát hoạt động ngoại thƣơng của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các hoạt động của họ phù hợp với mục tiêu đề ra. Phƣơng thức quản lý của Nhà nƣớc về ngoại thƣơng là quản lý gián tiếp thông qua công cụ Luật pháp, kế hoạch và các chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng. Để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế- xa hội, Nhà nƣớc sử 9 Luan van dụng các công cụ quản lý của mình với tƣ cách là môi trƣờng, là vật truyền dẫn và khách thể quản lý tới các đối tƣợng quản lý.
Môi trƣờng tốt bao gồm không chỉ là hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, môi trƣờng kinh tế nhiều tiềm năng phát triển, các nguồn lực dồi dào, phong phú, các thể chế hành chính thuận tiện, nhanh chóng mà còn bao gồm cả khả năng giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ịch kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trƣờng. Hơn thế nữa, các công cụ quản lý kinh tế- xã hội chính là phƣơng tiện mà Nhà nƣớc dùng để tác động, điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong xã hội nhằm đạt đƣợc các ý đồ, mục tiêu mong muốn của mình. Để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngoại thƣơng , Nhà nƣớc sử dụng nhiều phƣơng pháp mang tính hệ thống và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm các nhóm phƣơng pháp chủ yếu sau: - Các phƣơng pháp hoạch định: thông qua việc xác định phƣơng thức, mục tiêu, chiến lƣợc, kế hoạch phát triển ngoại thƣơng trong từng giai đoạn phát triển đất nƣớc. - Các phƣơng pháp hành chính: là các nhóm phƣơng pháp tác động trực tiếp bằng các quyết định mang tính bắt buộc của Nhà nƣớc lên đối tƣợng và khách thể thực hiện các hoạt động ngoại thƣơng.
Theo hƣớng tác động về mặt tổ chức, Nhà nƣớc không ngừng hoàn thiện khung pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh doanh hoạt động trong môi trƣờng an toàn và trật tự. Các chủ trƣơng chính sách có tầm vóc lớn và dài hạn của Nhà nƣớc đều đƣợc thể chế hóa bằng các đạo luật do Quốc hội thông qua nhằm đảm bảo chúng đƣợc chấp hành nhất quán.