Chương I nêu rõ: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật, các yếu tố tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác ”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Môi trường là tổng thể các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Các yếu tố tạo thành môi trường gồm: không khí, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác” [19, tr 477]. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về môi trường: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
11 Thành phần của môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác. Môi trường chính là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển của con người và sinh vật. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường Quản lý là điều khiển, chỉ đạo chung con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những mục tiêu định trước. QLNN là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, với mục đích ổn định và phát triển đất nước.
QLNN về môi trường là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý trong lĩnh vực môi trường bằng việc tổ chức, quy hoạch, điều hành thông qua quản lý các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc điểm, sự cần thiết quản lý nhà nước về môi trường 1. Đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường * Đặc điểm môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và toàn thể sinh vật trên trái đất Tất cả những nơi như nhà ở, nơi sinh hoạt, sản xuất kinh doanh hay nơi vui chơi giải trí đều cần đến những không gian nhất định. Những nơi này sẽ có yêu cầu nhất định về các yếu tố như vật lý, sinh học, hóa học, cảnh quan… Nếu không có môi trường, chúng ta chẳng thể nào hoạt động và phát triển được.
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, nơi để sản xuất… Như vậy chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người. Không gian này lại đòi hỏi phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, cảnh quan và xã hội. 12 Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tùy theo trình độ khoa học và công nghệ. Trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên có hai tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng, nghĩa là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất và tính bền vững của hệ sinh thái.
Tuy nhiên, chính sự tiến bộ của khoa học công nghệ và nhu cầu đời sống nâng cao của con người đã vô tình tạo ra hàng loạt những tác động xấu, làm môi trường ngày càng tồi tệ đi. - Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết, là nơi chứa đựng và đồng hóa các chất thải do sinh vật tạo ra trong quá trình sinh sống Thế giới sinh vật đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, bắt đầu từ khi con người biết canh tác đến khi công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển trong mọi lĩnh vực thì nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên lại không ngừng tăng lên về cả chất lượng, số lượng và mức phát triển của xã hội. Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội. Chức năng này của môi trường còn gọi là chức năng sản xuất tự nhiên gồm: Động, thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.
Các thủy lực cung cấp dinh dưỡng, nước, nguồn thủy hải sản và nơi vui chơi giải trí. Không khí, nhiệt độ, nước, gió, năng lượng mặt trời có chức năng duy trì các hoạt động trao đổi chất. Dầu mỏ, quặng, kim loại cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất. Rừng có chức năng cung cấp nước, bảo tồn độ phì nhiêu và đa dạng sinh học của đất, cung cấp nguồn củi gỗ, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái.
Trong hoạt động sống của mình, sinh vật cần phải đồng hóa các yếu tố của môi trường để tạo dựng cơ thể và đào thải vào môi trường những chất trao đổi như hít thở khí trời, uống nước, khai thác nguồn thức ăn sẵn có từ các muối khoáng, cơ thể động thực vật trên cạn và dưới nước. Con người lấy từ tự nhiên những nguyên vật liệu để xây dựng nơi ở, may mặc, chế tạo công cụ lao động, 13 sử dụng năng lượng nhằm thay thế sức lực cơ bắp, tăng hiệu suất hữu ích, khai thác thiên nhiên, mở rộng tầm nhìn và vươn tới vũ trụ bao la. để không ngừng nâng cao mức sống ngày càng đòi hỏi cao hơn của mình. Bằng trí tuệ của mình, trong hoạt động sống, con người không chỉ đòi hỏi ở thiên nhiên mà còn cải tạo thiên nhiên, biến các cảnh quan tự nhiên hoang sơ thành các cảnh quan văn hóa và tạo dựng được những điều kiện mới khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao, đa dạng và phong phú.
Song con người lại không thể thoát khỏi ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đồng thời con người cũng gây ra những sự biến đổi và suy thoái môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên. Trong quá trình sinh sống các sinh vật luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường. Tại đây các chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hóa phức tạp. Ở thời kỳ nguyên thủy, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làm cho chất thải sau thời gian biến đổi nhất định trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên.
Sự gia tăng của sinh vật nhanh chóng, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên dẫn đến chức năng này nhiều nơi, nhiều chỗ quá tải, gây ô nhiễm môi trường. Khả năng tiếp nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm của khu vực đó. Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân hủy thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm. Chức năng này có thể phân loại chi tiết như sau: - Chức năng biến đổi lý - hóa học: Phân hủy hóa học nhờ ánh sáng, hấp thụ, tách các vật thải và độc tố.
- Chức năng biến đổi sinh hóa: Sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nitơ và cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hóa. - Chức năng biến đổi sinh học: Khoáng hóa các chất hữu cơ, mùn hóa, amôn hóa, nitrat hóa và phản nitrat hóa. 14 - Môi trường có chức năng lữu trữ và cung cấp thông tin cho con người Mọi hoạt đồng kể từ khi con người xuất hiện, trải qua các thời kỳ tiến hóa từ ngàn đời xưa, các nền văn minh đều được ghi lại rõ ràng bằng chứng, vật chứng cụ thể, có được điều này nhờ cuốn sách khổng lồ môi trường: - Môi trường cung cấp sự ghi chép và là nơi lữu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người. - Môi trường cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xẩy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa… - Môi trường cung cấp và lữu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hóa khác.
* Đặc điểm quản lý nhà nước về môi trường QLNN về môi trường có liên quan đến hoạt động của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, có sự đan xen phức tạp giữa các cơ quan quản lý như: Bộ TN&MT với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, do đó cần phải có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan QLNN về môi trường với các bộ ngành khác nhau. Trong thời gian qua, việc phân định trách nhiệm của các cơ quan QLNN về môi trường cụ thể, rõ ràng nhưng phức tạp. QLNN về TN&MT được hình thành trên cơ sở hợp nhất nhiều lĩnh vực QLNN.