CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC LÀNG NGHỀ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về làng nghề “Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một khối người quây quần ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào của xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng.
Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng được hiểu một cách tương đối. Một số địa phương hiện nay không còn được gọi là làng mà thay vào đó là những tên gọi khác như phố, khối phố. Tuy nhiên, dù tên gọi là có thay đổi nhưng bản chất của cộng đồng dân cư đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn được xem là làng.” Các làng“ở nước ta được chia làm 4 loại chính:” “- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề nông một cách thuần túy.
- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp. - Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhưng có thêm một số nghề thủ công. - Làng chài, là làng của các cư dân làm nghề chài lưới, đánh cá sống ở ven sông, ven biển.” “Các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghệ phụ, chủ yếu được nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn. Về sau, các ngành nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, khi đó người thợ thủ công có thể không còn sản xuất nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làng quê mình.
Khi nghề thủ công phát triển, số người chuyên làm nghề thủ công và sống được bằng nghề này tăng lên, điều nay diễn ra ngay trong các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng nghề ở nông thôn.” Luan van 9 Theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Như vậy“khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung”chính sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội (KT-XH) ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về KT - XH và văn hóa”. Các tiêu chuẩn xác định làng nghề Nhiều làng, xã ở Việt Nam tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhưng không thể xác định tất cả là làng nghề. Công việc xác định làng , xã nào đủ tiêu chuẩn là làng nghề để có chính sách quản lý và hỗ trợ làng nghề phát triển ổn định hơn là cần thiết.
Do đó, các địa phương trong nước phải có tiêu chuẩn làng nghề thống nhất. “Năm 2006, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn. Trong Thông tư này, Bộ NN&PTNT đã đưa ra 03 tiêu chuẩn của làng nghề gồm: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước.” “Qua khảo sát làng nghề cho thấy tiêu chuẩn của Bộ NN&PTNT là phù hợp với tình hình chung của các làng nghề ở Việt Nam. Các địa phương nên sử dụng tiêu chuẩn làng nghề của Bộ NN&PTNT để tiến đến có một tiêu chuẩn làng nghề thống nhất trên cả nước.
Sử dụng tiêu chuẩn làng nghề chung trên cả nước sẽ giúp công tác quản lý làng nghề ở các địa phương thống nhất. Tiêu chuẩn làng nghề cũng cần điều chỉnh theo thời gian, được xây dựng dựa trên tiêu chí định lượng và định tính, đồng thời phản ánh được các đặc điểm của làng nghề gồm:” Luan van 10 “- Nhóm yếu tố định lượng: + Tỷ lệ số hộ tham gia sản xuất (SX) ngành nghề so với tổng số hộ của làng nghề. + Tỷ lệ số lao động tham gia SX ngành nghề so với tổng số lao động của làng. + Tỷ lệ thu nhập của ngành nghề so với tổng thu nhập của dân cư ở làng nghề.
- Nhóm yếu tố định tính: + Sản phẩm có tính mỹ nghệ , mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc của từng địa phương hoặc dân tộc. + SX theo những quy trình ổn định và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. + SX hàng hóa để đáp ứng thị trường với mục đích kinh doanh.” “Trong các tiêu chí kể trên, tiêu chí tỷ lệ số hộ và lao động tham gia SX phi nông nghiệp có thể chuyển sang tiêu chí số lượng hộ và lao động tham gia SX phi nông nghiệp để tính toán, xác định và công nhận làng nghề đạt chuẩn thuận tiện hơn. Các đặc điểm của làng nghề “- Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp.
các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, SX nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau. người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân.” “- Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm.” “- Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ. hầu Luan van 11 hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương.
cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm. song không nhiều.” “- Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân. Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn.
Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn.” “- Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước.
các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (bắc ninh), Đông Triều (Quảng Ninh). Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu. tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.” “- Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa Luan van 12 phương, tại chỗ và nhỏ hẹp.
Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. Cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu.” -“Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân.4 Phân loại làng nghề “Các làng nghề ở Việt Nam có đặc điểm phong phú và đa dạng về nhiều mặt như bề dày lịch sử, ngành nghề và sản phẩm. Do đó, các làng nghề có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau.