CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Khái niệm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp * Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý xuất hiện cùng với nhu cầu của con người, gắn liền với quá trình phân công và phối hợp trong lao động của con người. Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [9, tr.
Nhấn mạnh nội dung trên ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [10, tr. Ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức. Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người.
Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau: Quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm pháp luật… Như vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người.
Mục đích 8 và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy [28, tr. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Chủ thể của quản lý nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý.
Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Khách thể của quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước. Trật tự quản lý nhà nước do pháp luật quy định. Có thể hiểu quản lý nhà nước là sự tác động của các thủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước [28, tr.
Từ khái niệm trên về quản lý nhà nước ta rút ra các đặc điểm của quản lý nhà nước như sau: Một là, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước. Quyền lực là công cụ quản lý bao gồm một hệ thống pháp luật, điều lệ, quy chế, nội quy, kỷ luật, kỷ cương… được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân công, phân cấp rành mạch trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật quản lý. Giữa quản lý và quyền lực có mối quan hệ chặt chẽ. Bản thân quản lý là một quan hệ có tính quyền uy.
Hai là, quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh. Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị 9 quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội. Ba là, quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch.
Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học. Bốn là, quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội. Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn. Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh.
Tính ổn định trong các quyết định của nhà nước giúp cho chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định. Năm là, quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Bất kỳ xã hội và bất kỳ kiểu nhà nước nào, việc quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước đều phải có sự tập trung quyền lực. Đây là yếu tố bắt buộc và mang tính tất yếu nhằm điều khiểu (quản lý) được toàn bộ các hoạt động xã hội, thiết lập và duy trì một trật tự xã hội phù hợp với ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội.
Tuy nhiên, nội dung (tính chất) của sự tập trung trong các chế độ và chế độ nhà nước hoàn toàn không giống nhau. Điều đó trước hết phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, chế độ nhà nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. * Khái niệm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế hiện nay, lý lịch tư pháp ngày càng trở nên cần thiết và xuất hiện ngày càng nhiều trong các quan hệ xã hội. Pháp luật các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều quy định về việc cá nhân phải có phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia vào các 10 quan hệ xã hội.
Nói đến lý lịch bao giờ cũng gắn với một đối tượng cụ thể. Đối tượng được đề cập ở đây có thể là những cá nhân hoặc có thể là một tổ chức. Khái niệm lý lịch thường được hiểu là ghi chép lại (thường dưới dạng một hồ sơ) những sự kiện chủ yếu trong quá khứ và hiện tại của một đối tượng. Vậy hiểu thế nào là “lý lịch tư pháp”, phải chăng lý lịch tư pháp là sự ghi chép những thông tin liên quan đến đối tượng mà những thông tin đó có ý nghĩa về mặt tư pháp.
Vấn đề đặt ra là hiểu thế nào là những thông tin có ý nghĩa về mặt tư pháp. Điều này lại tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và thiết chế tư pháp đặc thù của từng quốc gia mà có những khái niệm về lý lịch tư pháp. Nhìn chung, lý lịch là thuật ngữ được gắn với một cá nhân hoặc tổ chức cụ thể. Mặt khác, lý lịch thường được hiểu là ghi chép lại (thường dưới dạng một hồ sơ) những sự kiện chủ yếu trong quá khứ và hiện tại của một đối tượng cụ thể.
Như vậy, lý lịch tư pháp là khái niệm dùng để chỉ ghi chép những sự kiện liên quan đến đối tượng mà những sự kiện đó có ý nghĩa về mặt tư pháp. Những sự kiện có ý nghĩa về mặt tư pháp tùy thuộc vào mục đích, phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp của từng quốc gia. Vì vậy, để tìm hiểu khái niệm lý lịch tư pháp một cách đầy đủ và cụ thể hơn, chúng ta cần nghiên cứu khái niệm này ở một số nước trên thế giới. Thuật ngữ “Lý lịch tư pháp”, theo tiếng Pháp: “Le casier judiciaire” có nghĩa là cái tủ có nhiều ngăn chứa đựng những phán quyết của Toà án; theo tiếng Anh: “Criminal record” có nghĩa là hồ sơ về hình sự, là hồ sơ ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Toà án đối với một người cụ thể.
Nhìn chung trên thế giới có 2 xu hướng quan niệm về phạm vi lý lịch tư pháp: Thứ nhất: Lý lịch tư pháp chỉ quan tâm tới án tích hình sự của cá nhân. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “criminal record” có ý nghĩa tương ứng với "lý lịch tư pháp", nhưng phản ánh rất rõ ý nghĩa chỉ ghi nhận những án tích hình 11 sự. Đây là quan niệm có thể thấy trong thể chế lý lịch tư pháp của Nhật Bản, Đài Loan. Thứ hai: Đối tượng quan tâm của lý lịch tư pháp không bó hẹp trong án tích hình sự, mà còn được mở rộng tới việc ghi nhớ cả những quyết định cấm hoặc tạm ngừng một quyền nào đó (ví dụ: cấm thành lập doanh nghiệp đối với người đã tuyên bố phá sản doanh nghiệp…).
Như vậy, phạm vi lý lịch tư pháp theo xu hướng này bao gồm cả những phán quyết của Tòa án về hình sự, dân sự, hành chính. Đại diện cho xu hướng này là thể chế lý lịch tư pháp của Pháp và Đức. Tuy vậy, cho dù theo xu hướng nào thì hệ thống quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao giờ cũng chỉ hướng đến các bản án, quyết định là kết quả của hoạt động xét xử và mục đích của việc quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp bao giờ cũng nhằm trước hết là phục vụ cho hoạt động xét xử nói riêng và hoạt động tố tụng nói chung. Theo pháp luật của nhiều quốc gia, khái niệm lý lịch tư pháp đều đồng nhất với khái niệm lý lịch hình sự, nói cách khác là lý lịch ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Toà án đối với người phạm tội.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "lý lịch tư pháp" đã xuất hiện trong đời sống pháp lý nước ta kể từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta. Nhìn vào lịch sử, trong các văn bản pháp luật của chế độ cũ đã sử dụng thuật ngữ "tư pháp lý lịch", tương ứng với thuật ngữ tiếng Pháp "casier judiciaire" và được định nghĩa "Tư pháp lý lịch là một tổ chức nhằm tập trung tài liệu về những tiền án liên hệ đến một cá nhân" [24, tr.