Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống. Chương 2: Thực trạng lễ hội và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Phương hướng và qiải pháp QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời gian tới. Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài Luận văn 1. Văn hóa Văn hóa là một trong những nội dung hết sức phức tạp, được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Kể từ năm 1871, khi E. Tylor đưa ra định nghĩa về văn hóa, đến nay người ta đã thống kê được khoảng 400 định nghĩa khác nhau về vấn đề này.
Tùy theo hướng tiếp cận khác nhau mà mỗi ngành khoa học, thậm chí mỗi nhà khoa học có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cách hiểu của mình. Mỗi hướng tiếp cận đều có những đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu khám phá, nghiên cứu bản chất của văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện tâm lý khác nhau, cũng như trong những chiều cạnh khác nhau của những hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, môi trường xã hội và với chính bản thân con người. Khái niệm văn hóa bắt nguồn từ chữ La tin Colere, có nghĩa là cày cấy vun trồng. Từ nghĩa hẹp ban đầu gắn với hoạt động nông nghiệp cổ xưa, nội dung của văn hóa mở rộng, phát triển thành ý nghĩa vun trồng, bù đắp hoạt động tinh thần của con người.
Cách đây hai nghìn năm, ngay từ thời La Mã cổ đại, nhà hùng biện XiXezon đã nói tới văn hóa tinh thần và ông đã nhấn mạnh triết học là văn hóa tinh thần. Ở phương Đông, trong nền văn hóa cổ đại Trung Quốc, Mạnh Tử cho rằng văn hóa chính là sự giáo hóa, giáo dục con người. Luan van 9 Các Bốp, nhà văn hóa học người Nga định nghĩa: “văn hóa là toàn bộ của cải vật chất và tinh thần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người. Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp, có liên quan đến nền sản xuất và chế độ kinh tế của đời sống xã hội, văn hóa biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội”.
Năm 1988, nhân dịp lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997), tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (UNESSCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống tín ngưỡng”. Trong khi nhiều người quan niệm văn hóa chỉ là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực học thuật, tư tưởng, tinh thần, thì học giả Đào Duy Anh lại cho rằng: “Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý – khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên các phương diện khác nhau của dân tộc đó” Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mác – Lênin của khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Phân viện báo chí và tuyên truyền, sau khi phân tích, kế thừa kiến thức của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã định nghĩa văn hóa như sau: “văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau.
Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Theo Từ Điển triết học, “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp Luan van 10 hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục, …). Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội” [8, tr.
Từ những cách tiếp cận về khái niệm “văn hóa” khác nhau như trên, mà ta có thể hiểu khái niệm chung nhất về văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể hệ thống những giá trị, những hoạt động có ý thức, mang tính xã hội và sáng tạo trong thực tiễn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng đó. Lễ hội và hoạt động lễ hội Lễ hội Lễ hội là một hiện tượng lịch sử - xã hội được hình thành từ lâu đời, mang trong mình những giá trị văn hóa độc đáo mang bản sắc cộng đồng, tổ chức theo nghi thức trọng thể nhất nhằm tôn vinh các vị thần linh, nhân thần có công với một địa phương trong việc trống giặc ngoại xâm hay mở mang xây dựng một vùng đất. Đồng thời lễ hội là dịp để con người giao tiếp, cố kết cộng đồng thông qua những hoạt động vui chơi giải trí mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh thì Lễ bao gồm các nghĩa sau : Chữ Lễ thường di với những từ như sau, nhưng không có từ Lễ hội: Lễ bái , tế thần, lễ bộ, lễ chế, lễ giáo, lễ mạo, lễ nghi, lễ nhạc, lễ phép, lễ phục, lễ sinh, lễ tân, lễ tiết, lễ tục, lễ văn, lễ vật [1,tr.
Chữ Hội thường gắn với: hội ẩm, hội binh, hội diện, hội đồng, hội họp, hội ý, hội kiến, hội minh, hội nghị, hội quán, hội tâm, hội thí, hội thực, hội trường, hội trưởng, hội viên, hội xã. Trong đó không có từ hội lễ [1,tr. Lễ hội bao gồm hai bộ phận Lễ và Hội. Chúng có mối liên hệ chặt chẽ.
Phần lễ là gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phát sinh, tích hợp. Trong lễ có hội, Luan van 11 trong hội có lễ. Không có lễ thì không gọi là lễ hội nữa và gọi là lễ hội thì lễ vẫn là yếu tố chính. Lễ được hình thành bởi: nhân vật được thờ, hệ thống di tích nghi lễ, nghi thức, thờ cúng như tế, lễ, rước, xách, hèm, huyền tích, cảnh quan mang tính thiêng.
Đồng thời, lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người. Lễ trong hội không đơn lẻ mà có một hệ thống liên kết, có trật tự và cùng hỗ trợ nhau. Hội được cấu thành bởi: những hình thức sinh hoạt vui chơi, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lý hội và hành động hội, di tích lịch sử văn hóa, danh thắng. Tiếp cận lễ hội theo hướng của quản lý văn hóa, bao trùm lên tất cả các sự kiện lễ hội đang diễn ra trong đương đại gồm cả truyền thống dân gian và các sáng tạo mang tính bác học có khá nhiều khái niệm về lễ hội, xin đưa ra một số ý kiến sau: Một là, Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định.
Hai là, Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một đại bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lích sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội. Ba là, Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức một trò diễn được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, của tư tưởng và của các biểu tượng, vượt trên thế giới hiện thực. Bốn là, Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và vai trò diễn, đó là cuộc sống lao động, chiến đấu của cộng đồng cư dân, khi nó được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên thế giới của phương tiện và điều kiện tất yếu. Luan van 12 Như vậy, Lễ hội là một sự kiện văn hóa mang tính cộng đồng, là hệ thống những hành vi nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hoạt động lễ hội Hoạt động lễ hội bao gồm những hoạt động như sau : Hoạt động nghi lễ, là một hệ thống các hành vi được đặc cách hóa, thẩm mỹ hóa đến cao độ, trở thành một thứ ngôn ngữ tượng trưng nhằm truyền tải những ý niệm của cộng đồng trong giao tiếp với thần linh. Do được quy tắc hóa và hình thức hóa một cách chặt chẽ nên hoạt động này không dành cho tất cả mọi người mà có tính đại diện, đại biểu. Hoạt động nghi lễ có sự tham gia của những động tác, lời nói do cá nhân, nhóm hay tập thể thực hiện với sự phối hợp của âm thanh, đạo cụ diễn xướng, vũ đạo, ma thuật và đồ hiến tế. Với tư cách là tổ hợp của những phương tiện mang ý nghĩa, nó biểu hiện thái độ quy phục, tôn vinh và dâng hiến đối với thần linh và kèm ngay đó là xin thần linh ban phát những điều mong muốn cho hạnh phúc đời thường.
Sự cầu xin đóng vai trò mục tiêu của hoạt động nghi lễ. Hệ thống nghi lễ đã trở thành phong tục và ít thay đổi. Hoạt động bán nghi lễ, là những hoạt động thể hiện theo một cách khác với nghi lễ chính thức mong muốn của cộng đồng mở hội. Có rất nhiều hoạt động loại này mà dân gian gọi là trò.
Mỗi trò đều biểu hiện ra dưới dạng vui chơi hay diễn xướng, thi tài hay thi sức, có thể từ nguồn gốc sâu xa trong truyền thống văn hóa tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp.