Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật 1. Khái niệm thuốc Bảo vệ thực vật Theo Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2013 đưa ra khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật: “Thuốc hóa học bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc” [24].
Điều 48 Luật BV&KDTV năm 2013 cũng quy định “Thuốc hóa học bảo vệ thực vật là hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và phải được quản lý theo danh mục. Hàng năm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam và danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam. Nhà nước thống nhất quản lý tất cả các khâu từ đăng ký hoạt chất, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bảo quản, dự trữ, vận chuyển, buôn bán và sử dụng thuốc hóa học BVTV theo quy định của pháp luật”. Đặc điểm của thuốc bảo vệ thực vật + Độc với cơ thể sinh vật: tác động đến hệ thần kinh làm sinh vật bị tê liệt và dẫn tới tử vong.
+ Tồn dư lâu dài trong đất, nước qua chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập vào cơ thể người gây nhiều rối loạn và phát triển thành bệnh như ung thư, viêm loét ngoài da. Thuốc BVTV được phân thành nhiều loại khác nhau dựa theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng: (i) Dựa vào đối tượng phòng chống: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại, thuốc trừ chuột, thuốc trừ tuyến trùng; (ii) Dựa theo con đường xâm nhập (tác động của thuốc) đến dịch hại: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thẩm 7 Luan van thấu và nội hấp; (iii) Dựa vào nguồn gốc hóa học: thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc, thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, thuốc BVTV có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ; (iv) Dựa vào dạng thuốc: thuốc bột, thuốc nước, thuốc hạt. hay dựa theo phương pháp sử dụng: phun lên cây, xử lý giống. Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác.
Khái niệm hoạt động kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời [25]. Vậy hoạt động kinh doanh thuốc BVTV là việc thực hiện liên tục tất cả các hoạt động trong các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến cung ứng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà ở đây là thuốc BVTV nhằm mục đích sinh lời cho người hoạt động kinh doanh thuốc BVTV. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật Kinh doanh thuốc BVTV là những hoạt động mua và bán bao gồm bán buôn, bán lẻ và trao đổi hàng hoá để lấy thuốc bảo vệ thực vật trên thị trường Việt Nam [8]. Tổ chức, cá nhân được phép kinh doanh các loại thuốc thành phẩm có trong Danh mục thuốc được phép sử dụng ở Việt Nam [24].
Kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Thuốc Bảo vệ thực vật là một mặt hàng kinh doanh đặc thù không giống như các loại hàng hóa khác trên thị trường. Đây là một mặt hàng yêu cầu các điều kiện kinh doanh khắt khe hơn rất nhiều so với các loại hàng hóa thông thường khác trên thị trường. Thuốc bảo vệ thực vật là hàng hóa không khuyến khích dùng nhiều mà sẽ hướng đến: dùng đúng, dùng đủ, đảm bảo chất lượng, an toàn cho người và các sản phẩm nông nghiệp.
Vì nếu trong sản xuất nông nghiệp dùng nhiều, dùng thừa, dùng quá liều lượng và không đảm bảo thời gian cách ly thì sẽ 8 Luan van ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của các sản phẩm nông nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và người tiêu dùng các hàng hóa nông sản còn tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật phải có đủ các điều kiện sau: Có chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV; Có cửa hàng bán thuốc và kho chứa thuốc đúng quy định; Có trang thiết bị cần thiết bảo đảm an toàn cho người, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy, nổ theo quy định của pháp luật [24]. + Có địa điểm hợp pháp, bảo đảm về diện tích, khoảng cách an toàn cho người, vật nuôi và môi trường theo đúng quy định. Địa điểm cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật tách biệt với khu vực dịch vụ ăn uống, trường học, bệnh viện; khi xây dựng phải cách nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước…) tối thiểu 20m.
+ Có kho thuốc đúng quy định, trang thiết bị phù hợp để bảo quản, xử lý thuốc bảo vệ thực vật khi xảy ra sự cố. Đối với kho thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở bán lẻ: - Khi xây dựng cách nguồn nước (sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước) tối thiểu 20 m; - Kho có kệ kê hàng cao tối thiểu 10 cm so với mặt sàn, cách tường tối thiểu 20 cm. Đối với kho thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở bán buôn: - Kho thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở bán buôn đảm bảo yêu cầu của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5507:2002 Hóa chất nguy hiểm - Quy phạm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản và vận chuyển [9]. + Chủ cơ sở buôn bán thuốc và người trực tiếp bán thuốc bảo vệ thực vật phải có trình độ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành bảo vệ thực vật, trồng trọt, sinh học, hóa học hoặc có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc bảo vệ 9 Luan van thực vật do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành BV&KDTV thuộc Sở NN&PTNT cấp.
Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV: sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên, cơ sở kinh doanh thuốc BVTV hoàn tất hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV nộp cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành BV&KDTV thuộc Sở NN&PTNT sẽ tiếp hành thẩm định hồ sơ và cấp giấy chứng nhận [24]. Thuốc Bảo vệ thực vật là đầu vào cần thiết trong nông nghiệp và được kinh doanh bởi các công ty nhập khẩu, sản xuất, sang chai đóng gói đến các đại lý, cửa hàng bán lẻ. Địa bàn phân bố các cửa hàng bán lẻ chủ yếu ở các vùng nông thôn, phân tán rải rác, tạo ra sự khó khăn trong quản lý Nhà nước. Các cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật nhỏ lẻ chủ yếu nằm sâu trong khu vực dân cư, người kinh doanh nhỏ lẻ ít có trình độ và hiểu biết về thuốc bảo vệ thực vật.
Cùng với đó là các cửa hàng này kinh doanh xen lẫn với các khu vực dân cư sinh sống nên ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý đặc biệt là làm cho nguồn lực, kinh phí cho quản lý tăng cao. Trên thị trường có rất nhiều nguồn cung ứng thuốc BVTV, do đó quản lý các loại thuốc, nhất là các loại thuốc từ Trung Quốc đòi hỏi nhà quản lý phải phân định chất lượng, chủng loại thuốc được cấp phép và không được cấp phép buôn bán, sử dụng ở Việt Nam [14]. Quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật 1. Khái niệm quản lý nhà nước Theo Nguyễn Hữu Hải [13], “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.
Trần Thị Ngọc Lan [18] cho rằng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội 10 Luan van mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. So với hoạt động quản lý của các chủ thể khác trong xã hội, thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt sau đây: - Mục tiêu quản lý nhà nước là đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia về xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng. - Chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp theo luật định. - Đối tượng của quản lý nhà nước là tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác để cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội.
- Quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân. - Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý của nhà nước, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [15]. Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [31].