Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về hoạt động các cụm công nghiệp Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản a.
Khái niệm cụm công nghiệp Cụm công nghiệp là khái niệm được sử dụng khá phổ biến và thường xuyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước tư bản, đặc biệt là sau cuộc cách mạng khoa học công nghiệp trên thế giới trong những năm 1970 – 1980 của thế kỷ trước. Với mô hình này đã cho phép hạ thấp chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm thu hút, di dời các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất kinh doanh; do UBND các tỉnh quyết định thành lập. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 ha.
Trường hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt qua 75 ha (Thủ tướng Chính phủ, 2009; Chính phủ, 2017). Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha.
Cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp phục vụ di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng nghề ở địa phương (Chính phủ, 2017). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cụm công nghiệp giống khu công nghiệp, khu chế xuất đều là địa điểm sản xuất kinh doanh và dịch vụ của các đơn vị kinh tế, tách biệt với khu dân cư có chung hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, bảo đảm sản xuất an toàn thuận lợi và bền vững nhưng khác nhau được xem xét trên các khía cạnh về quản lý, về quy mô và về trình độ sản xuất. Về quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất do Chính phủ quyết định thành lập và quản lý. Cụm công nghiệp do chính quyền địa phương quyết định thành lập và quản lý và khác hoàn toàn.
Về quy mô khu công nghiệp có quy mô lớn, cụm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, giới hạn trong địa phương một tỉnh, huyện, hoặc xã. Về trình độ sản xuất khu công nghiệp, khu chế xuất có trình độ sản xuất hiện đại, cụm công nghiệp là hình thức biểu hiện thấp của khu công nghiệp, có trình độ sản xuất ở mức trung bình (Thủ tướng Chính phủ, 2009; Chính phủ, 2017). Khu công nghiệp khác với các cụm công nghiệp vì khu công nghiệp là “khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất”.
Khu chế xuất là “khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập” (Thủ tướng Chính phủ, 2009; Chính phủ, 2017). Hoạt động ở cụm công nghiệp Hoạt động ở cụm công nghiệp là hoạt động của các cá nhân, tổ chức sau khi đã đấu thầu hoặc thuê được mặt bằng tại các cụm công nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại các cụm công nghiệp. Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đầu tư, cơ sở sản xuất có nhu cầu di dời vào cụm công nghiệp liên hệ với chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để được hướng dẫn về quy hoạch, bố trí ngành nghề, giá thuê đất, nhà xưởng, kho bãi, văn phòng, sử dụng các dịch vụ công cộng, tiện ích, các thủ tục triển khai dự án đầu tư vào cụm công nghiệp và thỏa thuận nguyên tắc về vị trí, địa điểm, diện tích đất công nghiệp dự kiến thuê (Chính phủ, 2009, 2017). Hoạt động sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp thực hiện theo các quy định hiện hành của pháp luật.
Các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh phải lập, thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật. Việc kiểm tra, thanh tra chuyên ngành đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh thực hiện theo kế hoạch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện thường xuyên không quá một lần trong một năm trừ khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra thường xuyên phối hợp với Sở Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp huyện và chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thực hiện công tác phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong cụm công nghiệp. Tổ chức, cá nhân trong cụm công nghiệp báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh gửi cơ quan thống kê trên địa bàn theo quy định của Luật Thống kê.
Định kỳ hàng quý, năm, cơ quan thống kê trên địa bàn có trách nhiệm tổng hợp tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp, gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện, Sở Công Thương để phối hợp quản lý (Chính phủ, 2009, 2017). Khái niệm về quản lý Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Theo quan điểm của Follet dưới góc độ quan hệ con người, đã cho rằng “Quản lý” là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hành động thông qua người khác (Follett, 1927). Theo quan điểm của Stephen “Quản lý” là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của những người trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Stephen et al.
Quan điểm của Taylor cho rằng “Quản lý” là hình thành công việc của mình thông qua người khác và biết được chính xác họ đã hoàn thành công việc của mình theo cách tốt nhất và rẻ nhất (Taylor, 2002). Từ các quan điểm trên, chúng tôi hiểu rằng, “Quản lý” là một thuật ngữ chỉ tác động một cách có ý thức của con người tới đối tượng quản lý nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hoạt động của con người để hướng đến những mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất trong mỗi điều kiện nhất định. Cấu trúc tổ chức của quản lý gồm: (1) Chủ thể quản lý; (2) Đối tượng quản lý; (3) Mục tiêu quản lý; (4) Công cụ quản lý. Tùy thuộc đối tượng quản lý mà người ta chia thành 3 loại hình, cụ thể: (1) Con người điều khiển các vật hữu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình không phải con người để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của con người điều khiển.
Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường, quản lý cây trồng; (2) Con người điều khiển các vật vô tri, vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của con người điều khiển, được gọi là quản lý kỹ thuật như quản lý máy móc, thiết bị; (3) Con người điều khiển con người. Loại hình này được gọi là quản lý xã hội. Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Đối tượng quản lý, khách thể quản lý chủ yếu là quản lý con người.
Ngoài ra, còn quản lý các khách thể khác như tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật… Chủ thể quản lý có thể là một người, một tổ chức, một bộ máy… Quản lý là sự kết hợp giữa trí tuệ và lao động. Bởi vì ba nhân tố có tính quyết sự thành bại, sự phát triển của một công việc, một chế độ xã hội là: trí lực, sức lao động và quản lý. Trong đó, quản lý là sự phối, kết hợp giữa sức lao động và trí lực. Nếu phối hợp tốt thì xã hội, nền kinh tế sẽ phát triển, ngược lại thì sẽ trì trệ, rối ren.
Vì thế, nói đến quản lý là phải nói đến một cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý (như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội…). Vì vậy, chủ thể quản lý phải có khoa học và nghệ thuật trong việc tác động vào đối tượng bị quản lý (con người trong xã hội) và các khách thể quản lý khác như tài nguyên, môi trường, khoa học công nghệ… nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất (Stephen et al., 1995; Phan Huy Đường, 2010). Chủ thể quản lý Công cụ quản lý Mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý Đối tượng quản lý Sơ đồ 2. Sơ đồ quản lý Nguồn: Stephen et al.
(1995); Taylor (2002) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Xã hội hóa sản xuất đòi hỏi có sự quản lý Quản lý nảy sinh chủ yếu từ tính xã hội hóa lao động sản xuất và hoạt động lao động nói chung của con người. Quản lý sinh ra từ tính chất biến đổi của lao động do tác động của sự phát triển lực lượng sản xuất. Quản lý là một tất yếu khách quan của quá trình xã hội hóa sản xuất.