Tổng quan nghiên cứu

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu chiến lược xuyên suốt trong hệ thống chính sách an sinh và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tại tỉnh Bắc Kạn, giảm nghèo không chỉ giải quyết bài toán đời sống dân sinh mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm gắn liền với việc giữ vững ổn định an ninh quốc phòng vùng miền núi Đông Bắc. Huyện Na Rì là địa bàn vùng cao đặc thù với diện tích tự nhiên đạt 85.300 ha, dân số ghi nhận 41.440 người phân bổ tại 22 xã, thị trấn. Mặc dù địa phương đã quyết liệt triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020, thực tiễn quản lý nhà nước tại đây vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng. Dù tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm nhanh từ 40,89% năm 2016 xuống còn 24,85% năm 2019, kết quả này vẫn bị đánh giá là thiếu tính bền vững và tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo rất cao.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện những khoảng trống, sự chồng chéo trong cơ chế điều hành và đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác giảm nghèo tại một địa phương có tới 97,2% hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công, khảo sát toàn diện thực trạng giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp cung cấp các căn cứ khoa học định lượng, góp phần giúp huyện Na Rì duy trì mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2 – 2,5%/năm một cách thực chất và lâu dài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về an sinh xã hội kết hợp với phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều hiện đại. Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững được định nghĩa là sự tác động có tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật và chính sách của bộ máy hành chính công nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, ngăn ngừa các rủi ro tổn thương và triệt tiêu nguy cơ tái nghèo.

Nghiên cứu ứng dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết hợp tiêu chí thu nhập (chuẩn nghèo khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng, chuẩn cận nghèo là 1.000.000 đồng/người/tháng) với mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin) qua 10 chỉ số đo lường cụ thể. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết nhu cầu cơ bản của Ngân hàng Thế giới nhằm phân tích tác động bất bình đẳng xã hội khi khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất ở Việt Nam tăng từ 6,2 lần năm 1993 lên 10 lần năm 2018. Khung lý thuyết cũng kế thừa mô hình phát huy nội lực cộng đồng của TS. Đặng Kim Sơn và các luận điểm hoàn thiện chính sách giảm nghèo của PGS.TS Lê Quốc Lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đồng bộ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp toàn diện từ các văn kiện Đảng bộ, báo cáo kinh tế - xã hội, biên bản rà soát hộ nghèo của Ủy ban nhân dân huyện Na Rì, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện trên địa bàn 22 đơn vị hành chính cấp xã với 233 thôn, bản trong giai đoạn 2016 – 2019.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ dữ liệu khảo sát thực tế của 10.086 hộ dân toàn huyện trong chuỗi thời gian 4 năm liên tiếp. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn diện được áp dụng để bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho mọi tầng lớp dân cư và điều kiện địa hình phức tạp. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp tổng hợp quy nạp được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác cấu trúc nghèo đói theo chuẩn đa chiều, làm rõ mối tương quan giữa hạ tầng kỹ thuật, điều kiện tự nhiên với năng lực thoát nghèo của từng cộng đồng dân cư, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc để dự báo giai đoạn đến năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả giảm nghèo của huyện Na Rì đạt tốc độ nhanh nhưng chưa đảm bảo tính ổn định vững chắc. Trong giai đoạn 2016 – 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm mạnh từ 40,89% (3.995 hộ) xuống 24,85% (2.506 hộ), đạt mức giảm 16,05%, tương ứng mức giảm bình quân 4,07%/năm, vượt xa chỉ tiêu 2 – 2,5%/năm của Nghị quyết số 07-NQ/HU. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ cận nghèo chỉ giảm nhẹ từ 15,66% (1.530 hộ) xuống 13,56% (1.368 hộ), giảm 2,1%, cho thấy phần lớn hộ thoát nghèo mới chỉ chạm ngưỡng cận nghèo và rất dễ tái nghèo khi gặp biến cố.

Thứ hai, mức độ nghèo phân hóa vô cùng gay gắt theo không gian địa lý. Tỷ lệ nghèo tập trung cao ở các xã vùng cao, địa hình chia cắt mạnh như xã Vũ Loan chiếm 44,42% hộ nghèo, xã Đổng Xá chiếm 37,35%, xã Lương Thành chiếm 37,25%. Trái lại, các xã vùng thấp có trục giao thông thuận lợi và hoạt động hợp tác xã phát triển ghi nhận tỷ lệ nghèo thấp hơn rất nhiều như xã Hảo Nghĩa đạt 10,14% và xã Kim Lư chỉ còn 6,37%.

Thứ ba, cơ cấu hộ nghèo mang tính đặc thù sâu sắc khi tập trung áp đảo ở các nhóm dân tộc thiểu số, chiếm tới 97,2% tổng số hộ nghèo toàn huyện (hộ nghèo dân tộc Kinh chỉ chiếm 2,8%). Trong nội bộ các nhóm dân tộc thiểu số, dân tộc Mông có tỷ lệ nghèo cao nhất lên tới 67,0% hộ nghèo, tiếp đến là dân tộc Dao với 52,9% hộ nghèo, trong khi dân tộc Nùng là 24,2% và dân tộc Tày là 18,8%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghèo tại Na Rì phản ánh mối quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa bất lợi về tự nhiên và hạn chế trong tổ chức sinh kế. Địa phương có tới 96,13% diện tích tự nhiên là đất đồi núi dốc (81.999 ha), trong khi đất đồng bằng thủy thành phục vụ sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 2,32% (1.977 ha). Sản lượng lương thực bình quân đạt 791 kg/người/năm, chủ yếu phục vụ nhu cầu tự cấp tự túc. Bức tranh chênh lệch này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ hình cột so sánh tỷ lệ nghèo giữa 22 xã thị trấn và bảng đối chiếu tỷ lệ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản, giúp chỉ rõ các mắt xích yếu nhất trong hệ thống an sinh địa phương.

So sánh với bức tranh chung của tỉnh Bắc Kạn, Na Rì có tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 là 24,85%, tuy thấp hơn huyện vùng cao Pác Nặm (35,17%) nhưng cao hơn rất nhiều so với Thành phố Bắc Kạn (1,93%). Nguyên nhân quản lý nhà nước chưa đạt hiệu quả tối ưu là do cơ cấu bộ máy làm công tác giảm nghèo tại cơ sở chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã chưa đồng đều, các chính sách hỗ trợ còn tình trạng chồng chéo và việc đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên xã chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ giảm nghèo. Ủy ban nhân dân huyện Na Rì cần xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu tại 22 xã, thị trấn, phân định rành mạch chức năng giữa các phòng chuyên môn, đồng thời tổ chức các đợt tập huấn nghiệp vụ điều tra, rà soát nghèo đa chiều cho 100% cán bộ văn hóa - xã hội cấp cơ sở trước quý 2 năm 2021.

Thứ hai, đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng giảm dần chính sách trợ cấp trực tiếp cho không, chuyển mạnh sang hỗ trợ có điều kiện gắn với phát triển chuỗi giá trị nông lâm nghiệp. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội ưu tiên nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng 450 ha cây dong riềng, khai thác hiệu quả 66.949,96 ha đất lâm nghiệp và phát triển đàn đại gia súc trên 12.190 con gắn với thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021 – 2025.

Thứ ba, ưu tiên tập trung nguồn lực ngân sách nhà nước để đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện cần tham mưu phân bổ tối thiểu 40% vốn đầu tư công hàng năm để hoàn thành mục tiêu bê tông hóa 100% các trục đường giao thông liên xã kết nối các vùng lõi nghèo như Vũ Loan, Đổng Xá, Liêm Thủy đến năm 2024.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách bảo trợ xã hội. Các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) cần xây dựng chương trình truyền thông song ngữ tại 233 thôn bản, giúp đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao nhận thức, chủ động học nghề và tự vươn lên thoát nghèo bền vững với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2 – 2,5%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các huyện miền núi: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và kinh nghiệm điều hành thực tế để tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách giảm nghèo đa chiều trên địa bàn.

Thứ hai, cán bộ hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Tài liệu mang đến hệ số liệu chi tiết về mối tương quan giữa điều kiện thổ nhưỡng, văn hóa tập quán với tỷ lệ nghèo của 5 nhóm dân tộc vùng Đông Bắc.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Hành chính công và Kinh tế phát triển: Công trình là mẫu nghiên cứu điển hình về phương pháp thu thập, xử lý số liệu thứ cấp quy mô lớn và đánh giá tác động chính sách cấp huyện.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, các dự án an sinh quốc tế và ngân hàng chính sách: Luận văn gợi mở các hướng tiếp cận sinh kế nông lâm kết hợp khả thi, giúp nâng cao hiệu quả giải ngân vốn vay vi mô tại các địa bàn khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Na Rì đã thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2016 – 2019?
Trong giai đoạn 2016 – 2019, tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Na Rì đã giảm mạnh từ 40,89% (3.995 hộ) xuống còn 24,85% (2.506 hộ), bình quân mỗi năm giảm 4,07%. Mức giảm này vượt chỉ tiêu 2 – 2,5%/năm của Nghị quyết Đảng bộ huyện, tuy nhiên tỷ lệ cận nghèo vẫn ở mức cao với 13,56% vào năm 2019.

Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm những tiêu chí cụ thể nào?
Chuẩn nghèo đa chiều kết hợp tiêu chí thu nhập (700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn, 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị) với mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh và thông tin, được định lượng thông qua 10 chỉ số đo lường thiếu hụt.

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo tại Na Rì lại tập trung áp đảo ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số?
Thống kê năm 2019 cho thấy người dân tộc thiểu số chiếm 97,2% tổng số hộ nghèo toàn huyện Na Rì, riêng dân tộc Mông nghèo tới 67,0%. Nguyên nhân do đồng bào sinh sống ở vùng núi dốc chia cắt, đất canh tác lúa nước chỉ chiếm 2,32% diện tích và giao thông đi lại khó khăn.

Hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Na Rì là gì?
Hạn chế lớn nhất là bộ máy làm công tác giảm nghèo tại 22 xã, thị trấn phần lớn hoạt động kiêm nhiệm, năng lực chuyên môn chưa đồng đều. Các chính sách còn tình trạng hỗ trợ trực tiếp dàn trải, chưa tạo ra động lực sinh kế gắn với thị trường để chống tái nghèo.

Những ngành kinh tế trọng điểm nào giúp Na Rì bứt phá giảm nghèo giai đoạn 2021 – 2025?
Các đòn bẩy kinh tế then chốt gồm phát triển 66.949,96 ha đất lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến gỗ, mở rộng vùng nguyên liệu 450 ha cây dong riềng, duy trì sản lượng lương thực 34.021 tấn và phát triển đàn gia súc quy mô hơn 12.190 con.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều tại địa bàn miền núi.
  • Khảo sát thực chứng chỉ ra tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Na Rì giảm ấn tượng 16,05% trong giai đoạn 2016 – 2019 (từ 40,89% xuống 24,85%), song tỷ lệ cận nghèo 13,56% cho thấy kết quả còn thiếu tính bền vững.
  • Chỉ rõ rào cản cốt lõi bắt nguồn từ địa hình 96,13% đất đồi núi dốc, hạ tầng giao thông cách trở và tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng sâu cùng đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 97,2%).
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về kiện toàn bộ máy hành chính, chuyển đổi hỗ trợ có điều kiện, hiện đại hóa hạ tầng liên xã và khơi dậy ý chí tự lực của người dân.
  • Xác lập lộ trình thực thi giai đoạn 2021 – 2025 gắn với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2 – 2,5%/năm, làm căn cứ vững chắc cho công tác quản trị công tại địa phương.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn giá trị dành cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên cao học. Để tiếp cận toàn bộ dữ liệu khảo sát chi tiết, hệ thống biểu đồ định lượng và các đề xuất chính sách chuyên sâu, bạn hãy tải ngay toàn văn luận văn thạc sĩ này nhằm phục vụ hiệu quả cho công việc và học tập!