Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Luận văn phân tích quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đề xuất giải pháp hiệu quả cho phát triển địa phương.

Chuyên ngành

Quản Lý Nhà Nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc về giảm nghèo bền vững

1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

1.1.1.1. Khái niệm nghèo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chính sách phát triển xã hội. Huyện Na Rì, với đặc thù là vùng miền núi, chủ yếu là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số, đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác giảm nghèo. Chính phủ đã xác định giảm nghèo là một trong những chương trình mục tiêu hàng đầu, nhằm ổn định kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững không chỉ giúp cải thiện đời sống vật chất mà còn nâng cao tinh thần cho người dân.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Na Rì

Huyện Na Rì có địa hình chủ yếu là đồi núi, với nhiều xã đặc biệt khó khăn. Đời sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp và lâm nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện vẫn còn cao, với 24,85% vào năm 2019, cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách giảm nghèo hiệu quả.

1.2. Chính sách giảm nghèo bền vững của Nhà nước

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ giảm nghèo bền vững, bao gồm các chương trình hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề và phát triển hạ tầng. Những chính sách này nhằm đảm bảo người nghèo có thể tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và nhà ở.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Na Rì

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác giảm nghèo, huyện Na Rì vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các chính sách giảm nghèo bền vững chưa được triển khai đồng bộ và hiệu quả. Tình trạng chồng chéo trong các chính sách và thiếu sự phân định rõ ràng giữa các cấp quản lý là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Tình trạng chồng chéo trong chính sách

Nhiều chính sách giảm nghèo hiện tại chưa được áp dụng một cách đồng bộ, dẫn đến tình trạng chồng chéo và không hiệu quả. Điều này gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ.

2.2. Thiếu sự phân định rõ ràng trong quản lý

Công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Na Rì còn thiếu sự phân định rõ ràng giữa các cấp, các ngành. Điều này dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc triển khai các chương trình giảm nghèo.

III. Phương pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì

Để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững, huyện Na Rì cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp với từng nhóm dân cư và tăng cường sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng.

3.1. Xây dựng chương trình hỗ trợ phù hợp

Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng nhóm dân cư, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Điều này sẽ giúp tăng cường hiệu quả của các chính sách giảm nghèo.

3.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình giảm nghèo sẽ tạo ra động lực cho người dân. Sự tham gia này không chỉ giúp nâng cao ý thức của người dân mà còn tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại huyện Na Rì

Việc áp dụng các chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì đã mang lại một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá và điều chỉnh để đảm bảo tính bền vững của các chương trình này.

4.1. Kết quả đạt được từ các chính sách

Một số chính sách đã giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Na Rì, tuy nhiên, kết quả này chưa bền vững. Cần có các biện pháp bổ sung để duy trì và phát huy những kết quả đã đạt được.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các chương trình

Đánh giá hiệu quả của các chương trình giảm nghèo là rất cần thiết. Việc này sẽ giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo tại huyện Na Rì.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì cần được cải thiện. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện các chính sách và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

5.1. Hoàn thiện chính sách giảm nghèo

Cần hoàn thiện các chính sách giảm nghèo để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả. Việc này bao gồm việc điều chỉnh các chương trình hỗ trợ để phù hợp với thực tế địa phương.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong tương lai

Tương lai của công tác giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì phụ thuộc vào sự tham gia tích cực của cộng đồng. Cần có các biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình này.

17/07/2025
Luận văn quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở huyện na rì tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc về giảm nghèo bền vững 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm nghèo a.

Khái niệm về nghèo trên thế giới Nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa. Khi nói đến nghèo, chúng ta có rất nhiều quan niệm, định nghĩa của các tổ chức, các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, quan điểm và khía cạnh khác nhau, do đó, hiện nay, chưa có khái niệm duy nhất về nghèo đói. Theo Liên hợp quốc (UN): “ Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.

Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”. [32] Theo Ngân hàng phát triển châu á, năm 1999: “ Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà con người có quyền được hưởng”.[25] Theo ngân hàng thế giới (WB) trong “báo cáo về tình hình phát triển thế giới - tấn công nghèo đói”: “Nghèo là sự mất đi sự ấm no”, “nghèo là một khái niệm đa chiều vượt qua khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập, mà bao gồm các vấn đề liên quan đến năng 8 lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn, không có quyền lực”.

Báo cáo còn chỉ ra rằng “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói trong các thể chế đó”. [47] Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.[20] Đây là quan niệm gần nhất và được Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do sự phù hợp với các thước đo tiêu chuẩn tại Việt Nam. Hiện nay, khái niệm nghèo trên thế giới còn bao gồm khái niệm nghèo đa chiều.

Nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Một cách chung nhất, nghèo đói chính là tình trạng một bộ phận dân cư vì lý do nào đó không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó, là tình trạng thiếu ăn, thiếu nước sinh hoạt, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường suy thoái, tuổi thọ trung bình thấp, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Khái niệm về nghèo ở Việt Nam Ở Việt Nam, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Những người nghèo không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa – tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối 9 thiểu gần nhất, gần như không có.

Điều này đặc biệt thấy rõ ở các bộ phận dân cư sinh sống ở nông thôn hoặc bộ phận người yếu thế tại thành thị, chủ yếu tập trung tại các nhóm đối tượng như: trẻ em, người già, người khuyết tật., những người không được đi học, bỏ học, không có khả năng để hưởng thụ văn hóa, y tế, nhà ở, ăn mặc. nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ ăn, phần tích lũy không có. Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo mức tối thiểu những nhu cầu về ăn, mặc, ở, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp. Nhìn chung, khái niệm nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.

Nghèo thường được phản ánh qua ba khía cạnh: Thứ nhất, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người. Thứ hai, mức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Thứ ba, không được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Khái niệm giảm nghèo Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo được hiểu là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống.

Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo này được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người hay hộ không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Ở cấp hộ gia đình, giảm nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình; hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo. 10 Trên thực tế, chuẩn nghèo được thể hiện bằng một mức thu nhập cụ thể. Do vậy, giảm nghèo cũng có thể được hiểu là nâng cao thu nhập (để nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản).

Giảm nghèo bền vững Cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo [8]; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 [7]; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 [37] và Nghị quyết số 15- NQ/TW ngày 1/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 [21]. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm nghèo quốc gia năm 2008, Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ,…) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững. Mục đích của giảm nghèo bền vững là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, ổn định. Như vậy, giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.

Khái niệm chuẩn nghèo Xác định chuẩn nghèo là một công việc khó khăn vì nó gắn liền với từng thời điểm, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau tùy theo 11 đặc trưng của từng vùng, từng đối tượng để đánh giá. Do đó, định nghĩa về chuẩn nghèo là một khái niệm không cố định, nó phụ thuộc vào không gian và thời gian, theo từng quốc gia, khu vực và từng thời kỳ. Nhìn chung, chuẩn nghèo là một khái niệm tương đối động (thường phục thuộc thời gian), do vậy, người ta cần đưa ra các tiêu chí xác định chuẩn nghèo. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo là một mức chuẩn chung nào đó mà khi áp dụng vào người/hộ nào cho thu nhập/chi tiêu dưới mức chuẩn chung đã đề ra thì được coi là người nghèo/hộ nghèo.

Do chuẩn nghèo là một khái niệm không cố định, nên tiêu chí xác định chuẩn nghèo cũng là một khái niệm động, tiêu chí xác định chuẩn nghèo có sự khác nhau giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế và thay đổi theo thời gian. Tiêu chí chuẩn nghèo của thế giới Cách tiếp cận phổ biến nhất để thiết lập chuẩn nghèo là tiếp cận theo “Chi phí cho các nhu cầu cơ bản” được áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới và được mô tả trong Ravallion (1994,1998) và Ravallion và Bidani (1994). Cách tiếp cận “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” bao gồm xác định trước tiên một rổ hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm thích hợp để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cơ bản của một hộ và sau đó tính chi phí/giá trị của rổ hàng này. Như vậy, với cách tính này, chuẩn nghèo theo “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” đo lường thiên về thu nhập tối thiểu cần thiết để phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, để các thành viên trong hộ có đủ lương thực, thực phẩm để duy trì sức khỏe và sản xuất, cũng như có phương tiện để tham gia đầy đủ vào xã hội.

Theo cách tiếp cận của Tổng cục thống kê – Ngân hàng thế giới sử dụng chi tiêu bình quân đầu người từ khảo sát mức sống. Chuẩn nghèo được xây dựng theo cách tiếp cận chi phí cho các nhu cầu cơ bản, dựa trên hành vi tiêu dùng quan sát được của người nghèo, như đã khai báo được trong khảo sát 12 mức sống. Chuẩn này bao gồm các khoản chi tiêu cho lương thực, thực phẩm được dựa trên một rổ lương thực, thực phẩm tham chiếu duy nhất đối với hộ nghèo, được tăng lên hoặc giảm xuống khi cần thiết để đáp ứng định mức calo và được quy ra trị giá/chi phí dựa theo vec-tơ giá lương thực, thực phẩm quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Na Rì, Bắc Kạn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và biện pháp mà chính quyền địa phương áp dụng nhằm giảm nghèo bền vững. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả các nguồn lực và chương trình hỗ trợ, từ đó giúp nâng cao đời sống của người dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức triển khai các chương trình giảm nghèo, cũng như những thách thức mà huyện Na Rì đang đối mặt.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp thực trạng tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo trên địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, nơi phân tích cách tiếp cận vốn tín dụng cho hộ nghèo. Ngoài ra, tài liệu Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của đồng bào dân tộc Mnông tỉnh Đăk Nông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận nguồn vốn. Cuối cùng, tài liệu Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh Tây Ninh sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể để cải thiện hiệu quả cho vay cho hộ nghèo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách giảm nghèo bền vững tại Việt Nam.